Chương 1: GIỚI THIỆU Chương này trình bày sơ lược về tính cấp thiết của đề tài, cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu, làm rõ mục tiêu nghiên cứu và đưa ra các câu hỏi nghiên cứu để trả lời cho mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Phương pháp sử dụng trong bài để nhằm tìm ra kết quả nghiên cứu kiểm định với kì vọng của tác giả. 3 Chương 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ VỀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Phần nội dung này nói đến chủ yếu cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước các khái niệm về thanh khoản, các chỉ số có trong bài nghiên cứu. Sau đó, từ những nghiên cứu trước nói ra được vai trò của thanh khoản.
Đồng thời cũng chỉ ra các bài nghiên cứu trước các yếu tố thanh khoản tác động đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại. Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Dựa trên các nghiên cứu trước đây, chương 3 đưa ra các mô hình nghiên cứu, từ đó đưa ra các phạm vi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và cùng với các dữ liệu nghiên cứu tạo sự khác biệt và nối tiếp ý tưởng của các đề tài. Giới thiệu phương pháp ước lượng FGLS cùng với kiểm định của các mô hình tự tương quan. Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM Chương này tiến hành phân tích thống kê mô tả để đánh giá tình hình thanh khoản và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
Thông qua mô hình nghiên cứu, kết quả cho ra các hệ số thanh khoản có tác động đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Từ kết quả nghiên cứu khóa luận đưa ra các kết luận và đồng thời đưa ra một số khuyến nghị cho các cơ quan, cá nhân quản trị ngân hàng để có những chính sách phù hợp nhằm đảm bảo thanh khoản của ngân hàng nhằm đạt được lợi nhuận mong muốn. Cuối cùng đưa ra những hạn chế của đề tài và đưa ra các hướng nghiên cứu tiếp theo cho các bài nghiên cứu sau này. TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 4 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CỦA CÁC NHTMCP 2.1 Cơ sở lý luận về khả năng thanh khoản của các NHTMCP 2.1 Khái niệm về thanh khoản Theo Bank for Internal Settlement (2008), Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ban hành ‘’Principles for sound Liquidity Risk Management and Supervision’’, theo đó ‘’Thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức ’’. Như vậy thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác.
Theo Ủy ban Basel (2008) cho rằng thanh khoản là khả năng đáp ứng các nhu cầu về vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh bao gồm cho vay, thanh toán, chi trả lãi tiền gửi, các hoạt động giao dịch vốn khác tại mọi thời điểm. Khả năng thanh khoản là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của quản lý vốn lưu động và là nhiệm vụ trọng tâm của việc tối ưu hóa doanh thu và hiệu quả tài chính của ngân hàng. Quản lý vốn lưu động hiệu quả dẫn đến cải thiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng và nó giúp đáp ứng khả năng thanh khoản ngắn hạn (Maness và Zietlow, 2005; Samiloglu và Demirgunes, 2008). Việc sử dụng thấu chi ngày càng tăng, sự chậm trễ trong thanh toán của các chủ nợ thương mại và số dư tiền mặt giảm đều có thể báo hiệu vị thế thanh khoản suy yếu và khả năng vỡ nợ tăng lên.
Tỷ lệ khả năng thanh toán nợ hiện tại, một thước đo vị thế thanh khoản của một công ty cung cấp một bài kiểm tra đáng kể về khả năng thanh toán của công ty. Đây được coi là phương pháp chính xác nhất vì tiền mặt được sử dụng để trả cổ tức được trừ đi, do đó đưa ra bức tranh chân thực hơn về dòng tiền hoạt động. GARP (2015) cho rằng thanh khoản về cơ bản là một vấn đề ngắn hạn gây ra bởi các khoản nợ ngắn hạn bất ngờ và các yêu cầu tài trợ của các khoản nợ dài hạn có ảnh hưởng xấu đến hoạt động tài chính của công ty. Do đó, rủi ro thanh khoản phát sinh từ sự thay đổi của tài sản và nợ ngắn hạn và các thành phần ngắn hạn của tài sản và nợ dài hạn.Lopez (2005) khả năng thanh khoản thường được định nghĩa là khả năng của một công ty tài chính trong việc đáp ứng các nghĩa vụ nợ của mình mà không phải chịu các khoản lỗ lớn không thể chấp nhận được.
Một ví dụ là một công ty thích thanh toán các nghĩa vụ thương phiếu chưa thanh toán trong một tháng của mình bằng cách phát hành thương phiếu mới thay vì bán tài sản. Do đó, “rủi ro thanh khoản tài trợ” là rủi ro mà một công ty sẽ không thể đáp ứng được hiện tại và tương lai của mình. Các nhu cầu về dòng tiền và tài sản thế chấp, cả dự kiến và bất ngờ, mà không ảnh hưởng trọng yếu đến hoạt động hàng ngày hoặc tình trạng tài chính tổng thể của nó. Các công ty tài chính đặc biệt nhạy cảm với rủi ro thanh khoản tài trợ kể từ khi chuyển đổi kỳ hạn nợ (ví dụ, tài trợ cho các khoản vay dài hạn hoặc mua tài sản bằng tiền gửi ngắn hạn hoặc nghĩa vụ nợ) là một trong những lĩnh vực kinh doanh chính của họ.
Theo Bordeleau và Graham (2010), tài sản có tính thanh khoản bao gồm: Tiền mặt và các khoản tương đương tại quỹ, tiền gửi tại NHNN; tiền, vàng gửi tại các tổ chức tín dụng khác và cho vay các tổ chức tín dụng khác. Nguyễn Văn Tiến (2009) trong nghiên cứu của mình đã định nghĩa khả năng thanh khoản theo 2 góc độ là tài chính và tài sản. Theo góc độ tài sản, tác giả cho rằng thanh khoản là khả năng mà một tài sản có thể chuyển khóa thành tiền và ngược lại, còn theo như góc độ tài chính thì khả năng thanh khoản là khả năng ngân hàng có thể thực hiện các nghĩa vụ tức thời phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh.2 Vai trò của việc duy trì được khả năng thanh khoản của NHTMCP Giúp các khách hàng rút tiền từ các khoản tiền gửi một cách nhanh nhất ở mọi lúc mọi nơi. Việc này nhằm tạo sự uy tín của ngân hàng cho mọi chi trả khi khách hàng đã gửi tiền vào ngân hàng đó.
Giúp khách hàng đề nghị vay vốn có thể thực hiện có tiền vay vốn nhanh chóng. Việc này thể hiện sự chuyên nghiệp, tạo lòng tin khiến khách hàng quay lại tiếp tục vay vốn hay sử dụng dịch vụ tín dụng tại ngân hàng thương mại này. Giúp ngân hàng thanh toán các khoản phải trả khác như là trả lương nhân viên, thưởng cho các cán bộ không bao giờ chậm trễ sẽ tạo niềm tin và cống hiến hết mình của nhân viên cho ngân hàng. Bên cạnh đó, thu hút và giữ được nhiều nhân tài về cho ngân hàng thúc đẩy ngân hàng phát triển tăng quy mô, lợi nhuận.
6 Luôn có nguồn tiền để chi tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới cho ngân hàng. Điều này cho thấy sự chuyên nghiệp và tạo sự tiện lợi cho khách hàng nhiều hơn. Nhiều tính năng ưu việt, nâng cấp hiện đại sẽ khiến giải quyết công việc nhanh chóng hơn, tạo cơ hội kiếm lợi nhuận nhiều hơn. Thanh toán cổ tức cho cổ đông khi đã nắm giữ cổ phiếu của ngân hàng dài hạn.
Điều này tạo cho ngân hàng một sức hấp dẫn khiến cho việc chào bán cổ phiếu dễ dang hơn và ngân hàng sử dụng nguồn tiền mang đi đầu tư, cho vay kiếm lợi nhuận nhiều hơn.3 Cách đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại cổ phần Có thể cho rằng có nhiều phương pháp để tiếp cận và đo lường khả năng thanh khoản. Trong đó có một số cách đo lường khả năng thanh khoản của NHTMCP tại Việt Nam như: - LDR : là tỷ lệ dư nợ tín dụng trên vốn huy động Các khoản cho vay và tạm ứng LDR i,t = Tổng số tiền gửi Tỷ lệ dư nợ tín dụng trên vốn huy động .Lợi nhuận hoạt động chính của NHTM là đến từ hoạt động cho vay, do đó tỷ trọng dư nợ trên tổng tài sản luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tất cả khoản mục tài sản. - DAR : Tỷ lệ tiền gửi trên tài sản của ngân hàng Chỉ số này được tính như sau: Tổng tiền gửi DAR i,t = Tổng tài sản Nguồn tiền cho vay của ngân hàng huy động một phần lớn đến từ tiền gửi của khách hàng. Ngân hàng sẽ mang nguồn tiền này mang đi cho vay và thu lãi dựa trên chênh lệch lãi suất tiền gửi và lãi suất tín dụng.
- CDR: Tỷ lệ tiền mặt và các khoản tương đương tiền trên tiền gửi Chỉ số này được tính như sau: 7 Tiền và các khoản tương đương tiền CDR i,t = Tổng tiền gửi Tỷ lệ tiền mặt và các khoản tương đương tiền trên tiền gửi của ngân hàng. Chỉ tiêu tiền và các khoản tương đương tiền này của ngân hàng hàng xem chỉ tiêu có khả năng thanh khoản cao nhất của ngân hàng. Bên cạnh đó, tỷ lệ này để đo lường độ thanh khoản của ngân hàng có thể mang đầu tư, cho vay nhằm mục tiêu mang lại lợi nhuận cao và giữ mức an toàn hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên việc gia tăng chi phí dự trữ tiền mặt làm giảm hiệu quả sinh lời của NHTM.
- LARi,t : Tỷ lệ tài sản lưu động của ngân hàng i tại thời điểm t Chỉ số này được tính như sau: Tiền và các khoản tương đương tiền LAR = Nợ ngắn hạn Tỷ lệ này nhằm mục tiêu xem xét chỉ số có mức thanh khoản cao nhất của ngân hàng trên cho khoản nợ ngắn hạn chỉ số rủi ro của ngân hàng. Do đó Tỷ lệ này càng lớn thể hiện khả năng thanh khoản của NHTM càng tốt, tuy nhiên việc gia tăng chi phí dự trữ tiền mặt làm giảm hiệu quả sinh lời của NHTM. - CRi,t : Tỷ lệ thanh toán hiện hành của ngân hàng i tại thời điểm t Chỉ số này được tính như sau: Tài sản ngắn hạn CR i,t = Nợ ngắn hạn Tỷ lệ này cho thấy mức độ an toàn tài sản thanh khoản ngắn hạn của ngân hàng trên nguồn nợ ngắn hạn.