Chương 1. Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia của DN vào MSX toàn cầu trong lĩnh vực dệt may Chương 2. Cơ sở lý luận và giả thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia của các DN dệt may Việt Nam vào MSX toàn cầu Chương 3. Thực trạng và khả năng tham gia MSX toàn cầu của các DN dệt may Việt Nam Chương 4.
Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu Chương 5. Giải pháp và khuyến nghị tăng khả năng tham gia vào MSX toàn cầu của các DN dệt may Việt Nam. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THAM GIA CỦA CÁC DN VÀO MSX TOÀN CẦU TRONG LĨNH VỰC DỆT MAY 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về MSX toàn cầu Khái niệm về MSX toàn cầu đã xuất hiện từ những năm 1980 nhưng cho đến những năm đầu 1990 mới bắt đầu được đưa vào các nghiên cứu lý thuyết (Coe & Yeung, 2015).
Ban đầu, MSX toàn cầu được xem xét dưới giác độ của chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng. Xuất phát từ quan điểm “thế giới được hình thành theo cấu trúc”, việc phân tích chuỗi cung ứng toàn cầu chủ yếu quan tâm đến hiểu cách tổ chức các ngành công nghiệp toàn cầu. Chuỗi cung ứng toàn cầu là việc xác định tập hợp các công ty tham gia vào việc sản xuất và phân phối một hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể và định vị các loại mối quan hệ giữa các công ty trong chuỗi (Gereffi, 1994; Gereffi, 1999; Blair, 2005). Trong các nghiên cứu này, Gereffi đã phân loại chuỗi cung ứng thành hai loại, chuỗi cung ứng do người mua dẫn dắt và chuỗi do người sản xuất dẫn dắt.
Đây cũng là cơ sở để các nghiên cứu sau này chia MSX toàn cầu thành MSX do nhà sản xuất chi phối và MSX do nhà bán lẻ chi phối (Abonyi, 2005; Hess & Yeung, 2006; Coe và cộng sự, 2004). Về cơ bản, chuỗi giá trị toàn cầu và MSX toàn cầu có nhiều điểm chung nhưng là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau (Abonyi, 2005; Sturgeon, 2011). Chuỗi giá trị toàn cầu nhấn mạnh trật tự theo chiều dọc các hoạt động từ đầu vào, sản xuất đến phân phối, tiêu dùng và duy trì hàng hóa và dịch vụ. MSX toàn cầu nhấn mạnh bản chất và quy mô mối quan hệ giữa các công ty, giữa các công ty và chủ thể ngoài công ty, giúp kết nối các công ty đơn lẻ vào thành một nhóm kinh tế (Sturgeon, 2001; Sturgeon, 2002; Abonyi, 2005).
Cơ sở lý luận về MSX toàn cầu (GPN), được phát triển ban đầu bởi các nhà nghiên cứu ở Manchester và các cộng tác viên của họ (Henderson và cộng sự, 2002; Coe và cộng sự, 2004). Các nghiên cứu này phân tích MSX toàn cầu kết hợp với những nghiên cứu chuyên sâu về chuỗi giá trị toàn cầu/ chuỗi cung ứng toàn cầu cùng với các lý thuyết về mạng lưới các tác nhân, nhằm mục đích tìm kiếm các đặc điểm của hệ thống sản xuất xuyên quốc gia đa tác nhân, đa hướng thông qua các khái niệm giao nhau về nguồn lực, giá trị và sự gắn kết. Cơ sở lý thuyết đầu tiên về MSX toàn cầu này thường được biết đến là GPN 1. Khung lý thuyết về GPN 1.0 cho rằng MSX toàn cầu không hoàn toàn là tổ chức cũng không hoàn toàn là cấu trúc.
Cách tiếp cận MSX GPN 1.0 xác định các tác nhân trong mạng, các mối quan hệ đang diễn ra giữa các tác nhân và hậu quả cấu trúc của các mối quan hệ này.0 dựa trên khung phân tích kinh tế toàn cầu bằng cách phân tích ba yếu tố: giá trị, năng lực và sự gắn kết của bốn bên bao gồm DN, ngành, mạng lưới và thể chế. Khác với chuỗi giá trị chỉ tập trung vào phân tích các tác nhân công ty, GPN là một nền tảng đóng góp lý thuyết nổi bật dựa trên việc tích hợp các tác nhân phi công ty như chính phủ, cộng đồng xã hội và các tổ chức quốc tế (Henderson và cộng sự, 2002). Tuy nhiên, GPN 1.0 vẫn bị cho là một lý thuyết chưa được phát triển đầy đủ về MSX toàn cầu (Coe và cộng sự, 2004; Hess và Yeung, 2006). 8 Cùng với cách tiếp cận GPN lần đầu tiên ở góc độ địa lý kinh tế, GPN còn được tiếp cận dưới góc độ ở đổi mới công nghệ (Ernst & Kim, 2002).
Cách tiếp cận thứ hai này tập trung mạnh mẽ vào về đổi mới công nghệ vào đầu những năm 2000 và sau đó đã phát triển thành khái niệm mạng lưới đổi mới toàn cầu (GIN) (Esnt, 2009; Parrilli và cộng sự, 2013). Gần đây đã có những nghiên cứu để phát triển một phiên bản mới về MSX toàn cầu, GPN 2.0 vẫn dựa trên việc phân tích lý thuyết mạng lưới các tác nhân, vẫn bao gồm ba yếu tố là nguồn lực, giá trị và sự gắn kết giữa các bên trong mạng lưới như GPN 1. Tuy nhiên, GPN 2.0 đưa ra khung lý luận nâng cao để giải thích về mối quan hệ nhân quả giữa các cấu hình MSX toàn cầu và sự phát triển không đồng đều ở các khu vực trong nền kinh tế toàn cầu (Coe & Yeung, 2015; Coe & Yeung, 2019). Các nghiên cứu về GPN 2.0 đã xác định ba động lực cạnh tranh của MSX toàn cầu.
Đó là tối ưu hóa tỷ lệ chi phí/nguồn lực, duy trì phát triển thị trường và kỷ luật tài chính. Các động lực cạnh tranh này tương tác với các tác nhân công ty và các tác nhân phi công ty trong các điều kiện thị trường không giống nhau nhằm đưa ra các chiến lược khác nhau để tổ chức mạng lưới sản xuất toàn cầu (Werner, 2016; Coe & Yeung, 2019). Khung lý luận về GPN còn cho thấy vị trí địa lý của mạng được định hình như thế nào và theo đó, cách các chiến lược định vị của các công ty khác nhau được xác định ra sao. Khái niệm “liên kết chiến lược” được đưa ra trong một số nghiên cứu về GPN (Yeung, 2006; Yeung & Coe, 2015) cho thấy cách thức tạo ra lợi thế kinh tế theo quy mô của một khu vực hoặc quốc gia, đồng thời chỉ ra những lĩnh vực có thể được trở thành lợi thế cạnh tranh bằng việc bổ sung tài sản của khu vực hoặc quốc gia vào tài sản của mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Tổng quan các công trình nghiên cứu về MSX dệt may toàn cầu MSX dệt may toàn cầu là mạng do người bán lẻ chi phối với đặc điểm là nhà bán lẻ phát triển nhãn hiệu độc quyền thường bao gồm tên của cửa hàng (Coe và cộng sự, 2008; Coe & Yeung, 2015, Coe & Yeung, 2019). Đặc trưng của MSX dệt may là các nhà bán lẻ đặt hàng chuyên dụng cho các cơ sở sản xuất ở các nước đang phát triển với những hợp đồng lớn tới mức có thể chi phối các cơ sở cung ứng. MSX của ngành dệt may là mạng liên ngành gồm mạng cung ứng nguyên vật liệu thô, mạng cung cấp các bộ phận, MSX được tạo ra bởi các nhà may mặc, mạng xuất khẩu và mạng tiếp thị ở cấp bán lẻ (Gereffi, 1994). Tương tự như các ngành sản xuất khác, đối tác chiến lược giữ vai trò quan trọng trong MSX toàn cầu của ngành dệt may.
Đó là một nhà cung cấp trọn gói, cụ thể như là các nhà quản lý chuỗi cung ứng có kinh nghiệm và năng lực trong hệ thống mạng (Coe & Yeung, 2015). Để cung cấp thành phẩm cho khách hàng của công ty dẫn đầu, một đối tác chiến lược phải tham gia với các nhà cung cấp dịch vụ hậu cần. Chịu trách nhiệm về hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, hoạt động sản xuất, nó cũng phải chịu áp lực vận động hành lang từ các chủ thể phi công ty như các tổ chức lao động nhằm thúc đẩy điều kiện làm việc tốt hơn và tiêu chuẩn lao động cao hơn trong các nhà máy. Các nhà cung 9 cấp chuyên biệt, chẳng hạn như công ty dẫn đầu của một ngành phụ trợ, cũng tham gia vào hoạt động tiếp thị và xây dựng thương hiệu của công ty dẫn đầu.
Các nhóm người tiêu dùng có thể gây áp lực để đảm bảo trách nhiệm xã hội DN của một công ty dẫn đầu phải được tuân thủ. Nhìn chung, cấu hình MSX toàn cầu phân tích đáng kể mối quan hệ phức tạp giữa các công ty, giữa công ty dẫn đầu và đối tác chiến lược của nó. MSX dệt may toàn cầu là MSX có sự phân mảnh lớn với rất nhiều các DN nhỏ và kém hiệu quả ở cả các nước phát triển và nước đang phát triển (Lane & Probert, 2006; Lane & Probert, 2009). Vì vậy không có hướng dẫn thực hành toàn cầu tốt nhất nào cho các công ty dẫn dắt trong MSX có thể định hướng được các hoạt động của mình.
Các công ty trong ngành dệt may cũng bị hạn chế bởi phạm vi quốc gia hơn hấu hết ngành hàng tiêu dùng khác do khác biệt về văn hóa, phong cách, điều kiện thời tiết và kích cỡ. Do đó, các DN trong ngành thực hiện các chiến lược khác nhau và lựa chọn địa điểm sản xuất khác nhau. Địa lý hiện nay của ngành dệt may toàn cầu thể hiện các pha khác nhau của sự dịch chuyển diễn ra về vai trò sản xuất và địa điểm (Xin, Bo, & Zhi, 2019). Sự tham gia địa lý vào MSX toàn cầu ngành dệt may 1 Vai trò nhà thầu phụ Mời tham gia: Nam Phi và các nước đang phát triển Đông Âu, Trung Mỹ và Nam/Đông Nam Á Chủ chốt: Trung Quốc, Mexico, Trung Mỹ, Trung/Đông Âu, Bắc Phi, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Á; các nước vùng Caribe 2 Vai trò nhà chế tạo gốc Mời thời gia: Trung Quốc, Mexico, Mỹ, Latinh, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Á, Đông Âu Chủ chốt: Đông Nam Á, Trung Âu 3 Vai trò chế tạo, thiết kế Mời tham gia: Đông Nam Á gốc Chủ chốt: Đông Á (trừ Trung Quốc) 4 Vai trò thương hiệu gốc Mời tham gia: Đông Á (trừ Trung Quốc) Chủ chốt: Italia, Pháp, Anh, Nhật Bản, Mỹ Nguồn: (Xin, Bo, & Zhi, 2019) Việc phân loại như này cho thấy một bức tranh lớn ở cấp quốc gia và cấp khu vực.
Đông Á thể hiện vai trò và vị thế trong MSX ngành dệt may (Dicken & Henderson, 2003). Lane & Probert đã nghiên cứu đến mối quan hệ giữa MSX dệt may toàn cầu và chủ nghĩa tư bản quốc gia, nghiên cứu chủ thể chính là các công ty may mặc đóng vai trò chủ mạng khi tham gia vào MSX toàn cầu (Lane & Probert, 2006; Lane & Probert, 2009). Đây là các công ty xây dựng thương hiệu gốc ở các quốc gia phát triển như Anh, Đức, Mỹ.