Tổng quan nghiên cứu
Bối cảnh ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2019 ghi nhận nhiều biến động sâu sắc về dịch bệnh và thị trường. Theo thống kê của ngành, tổng đàn lợn cả nước vào tháng 10/2017 đạt 24,7 triệu con, giảm 15,06% so với cùng kỳ năm 2016. Sản lượng thịt lợn hơi năm 2018 đạt 3,82 triệu tấn, chiếm 72% tổng sản lượng thịt các loại. Đặc biệt, sự bùng phát của dịch tả lợn châu Phi từ đầu năm 2019 đã lan rộng tới 62 tỉnh thành, buộc phải tiêu hủy hơn 3,3 triệu con lợn với tổng thiệt hại kinh tế ước tính vượt 3.600 tỷ đồng. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về tái cơ cấu đàn giống theo Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hướng tới quy mô 35 triệu con với trên 90% là các giống ngoại cao sản và tổ hợp lợn lai năng suất cao.
Trước đòi hỏi cấp bách về việc nâng cao chất lượng thịt xẻ và hiệu quả kinh tế, luận văn tập trung nghiên cứu hai tổ hợp lai DVN1 và DVN2 được tạo ra từ hai dòng lợn Duroc thuần chủng nhập khẩu từ Canada là dòng Magnus chuyên sinh trưởng và dòng Kanto chuyên chất lượng thịt mỡ giắt. Mục tiêu cụ thể của công trình là đánh giá toàn diện khả năng sinh trưởng, năng suất sinh sản và phẩm chất tinh dịch của hai nhóm lợn DVN1 và DVN2. Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm từ tháng 7/2018 đến tháng 8/2019 tại Trạm nghiên cứu giống lợn Kỳ Sơn tại Hòa Bình và Trạm Tam Điệp tại Ninh Bình, trực thuộc Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương - Viện Chăn nuôi. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng giúp các cơ sở giống chọn lọc thành công dòng đực thương phẩm có tăng trọng bình quân đạt trên 889 g/ngày và tỷ lệ nạc vượt 60,9%, tạo tiền đề vững chắc cho việc khôi phục đàn lợn giống chất lượng cao sau khủng hoảng dịch bệnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết di truyền số lượng và nguyên lý ưu thế lai trong chăn nuôi gia súc nhằm khai thác tối đa tiềm năng sản xuất của các tổ hợp lai lợn ngoại. Cơ sở khoa học của đề tài dựa trên quy luật sinh trưởng theo giai đoạn và chu kỳ sinh học, trong đó tốc độ tích lũy protein và mô mỡ phụ thuộc chặt chẽ vào cơ chế hoạt động của hệ gen điều khiển. Các nghiên cứu chuyên sâu chỉ ra rằng hệ số di truyền của các tính trạng sản xuất ở lợn đạt mức trung bình đến cao, tiêu biểu như tăng khối lượng bình quân ngày đạt 0,43, tỷ lệ nạc đạt 0,40, độ dày mỡ lưng đạt 0,36 và độ dày cơ thăn đạt 0,26. Đồng thời, mối tương quan di truyền giữa tăng khối lượng và lượng thu nhận thức ăn mang giá trị thuận r = 0,65, trong khi tỷ lệ nạc tương quan nghịch chặt chẽ với độ dày mỡ lưng r = -0,87.
Mô hình nghiên cứu triển khai phép lai thuận nghịch giữa hai dòng lợn Duroc Canada cao sản: tổ hợp DVN1 kết hợp giữa đực Duroc Magnus và nái Duroc Kanto, còn tổ hợp DVN2 kết hợp giữa đực Duroc Kanto và nái Duroc Magnus. Khung lý thuyết tập trung phân tích 5 nhóm khái niệm cốt lõi: tăng khối lượng trung bình ngày từ giai đoạn 30 kg đến 100 kg, độ dày mỡ lưng tại vị trí P2, độ dày cơ thăn lưng, năng suất sinh sản qua số con sơ sinh sống trên ổ và phẩm chất tinh dịch thông qua chỉ số tổng số tinh trùng tiến thẳng.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập trực tiếp trên quần thể 200 cá thể lợn theo dõi sinh trưởng bao gồm 100 cá thể DVN1 (50 đực, 50 cái) và 100 cá thể DVN2 (50 đực, 50 cái). Khảo sát sinh sản thực hiện trên 100 lợn nái chia đều 50 nái DVN1 và 50 nái DVN2 qua 3 lứa đẻ liên tiếp. Đánh giá phẩm chất tinh dịch tiến hành trên 20 lợn đực giống (10 DVN1 và 10 DVN2) với tổng cộng 200 lần khai thác tinh dịch đạt tiêu chuẩn kỹ thuật.
Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên cân bằng tính biệt và nguồn gốc gia phả, đảm bảo các cá thể bước vào thí nghiệm đồng đều về thể trọng khoảng 28,88 - 29,39 kg tại thời điểm 72,8 - 72,9 ngày tuổi. Lợn được nuôi dưỡng theo quy trình công nghiệp chuẩn với thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh. Các chỉ tiêu dày mỡ lưng và dày cơ thăn được đo bằng máy siêu âm chuyên dụng ExaGo của Pháp tại vị trí P2 cách đường sống lưng 6,5 cm. Toàn bộ số liệu thô được phân tích thống kê thông qua phần mềm SAS phiên bản 9.1 bằng mô hình phân tích phương sai tuyến tính tổng quát GLM và so sánh cặp giá trị trung bình theo phương pháp Duncan. Việc lựa chọn mô hình thống kê này giúp bóc tách chính xác ảnh hưởng độc lập của tổ hợp lai, tính biệt và lứa đẻ, đồng thời kiểm soát tối đa sai số ngẫu nhiên trong toàn bộ timeline nghiên cứu kéo dài 14 tháng từ tháng 7/2018 đến tháng 8/2019.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu mang lại 4 phát hiện khoa học quan trọng về đặc tính năng suất của hai tổ hợp lai lợn DVN1 và DVN2:
Thứ nhất, tổ hợp lai DVN1 thể hiện ưu thế vượt trội về sinh trưởng so với DVN2. Khối lượng bắt đầu của DVN1 đạt 29,39 kg, cao hơn 1,77% so với mức 28,88 kg của DVN2 (P < 0,05). Chỉ tiêu độ dày cơ thăn của DVN1 đạt 55,53 mm, vượt hơn 1,09% so với DVN2 đạt 54,93 mm có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Cả hai nhóm đều có tốc độ tăng trọng ấn tượng với tăng khối lượng trung bình ngày của DVN1 đạt 889,58 g/ngày và DVN2 đạt 887,48 g/ngày, đạt mốc 98,26 - 98,71 kg chỉ sau 78 ngày kiểm tra, tương ứng tuổi đạt 100 kg là 150,83 - 151,39 ngày. Tỷ lệ nạc của DVN1 đạt 60,96% và DVN2 đạt 60,89%, tỷ lệ mỡ giắt lần lượt đạt 2,66% và 2,61%.
Thứ hai, yếu tố tính biệt tạo ra sự phân hóa rõ nét về năng suất sinh trưởng. Lợn đực có tốc độ tăng khối lượng bình quân ngày đạt 899,97 g/ngày, cao hơn 2,61% so với lợn cái đạt 877,09 g/ngày (P < 0,05). Độ dày cơ thăn ở lợn đực đạt 56,32 mm, vượt 4,03% so với lợn cái đạt 54,14 mm. Đồng thời, lợn đực có tỷ lệ nạc cao hơn (61,41% so với 60,43%) và độ dày mỡ lưng mỏng hơn đáng kể (10,75 mm so với 11,20 mm) so với lợn cái (P < 0,05).
Thứ ba, về năng suất sinh sản, nái DVN1 thể hiện sự vượt trội có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) so với DVN2 ở các chỉ tiêu số con sơ sinh sống trên ổ, khối lượng sơ sinh toàn ổ, số con cai sữa và khối lượng cai sữa trên con. Yếu tố lứa đẻ từ lứa 1 đến lứa 3 không tạo ra sự biến động tiêu cực đáng kể đến năng suất sinh sản của cả hai nhóm nái.
Thứ tư, về phẩm chất tinh dịch, lợn đực DVN1 có thể tích tinh dịch đạt 194,22 ml, nhỉnh hơn mức 183,33 ml của DVN2. Nồng độ tinh trùng của hai nhóm tương đương nhau, lần lượt đạt 180,99 triệu/ml và 180,87 triệu/ml.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân giúp tổ hợp DVN1 đạt ưu thế cao hơn DVN2 xuất phát từ hiệu ứng di truyền dòng bố mẹ. Khi sử dụng đực Duroc Magnus mang ưu thế sinh trưởng vượt bậc phối với nái Duroc Kanto có chất lượng thịt cao, thế hệ con lai DVN1 nhận được sự cộng hưởng tích cực về khả năng tổng hợp protein mô cơ. Mức tăng trọng 889,58 g/ngày của DVN1 vượt xa quy chuẩn tối thiểu 800 g/ngày được quy định tại Quyết định số 675/QĐ-BNN-CN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với giống gốc. Kết quả này cũng cao hơn đáng kể so với các tổ hợp lai Duroc trước đây tại Việt Nam như con lai đực Duroc phối nái F1 chỉ đạt 656,74 - 679,48 g/ngày, và tương đương với đàn lợn Duroc nuôi tại Tây Ban Nha đạt mức 861 g/ngày theo các báo cáo quốc tế.
Về phẩm chất tinh dịch, các chỉ tiêu thể tích 194,22 ml và nồng độ tinh trùng 180,99 triệu/ml của lợn đực DVN1 dù đáp ứng tốt yêu cầu thụ tinh nhân tạo thực tế nhưng vẫn thấp hơn định mức đối với giống gốc ngoại thuần chủng theo Quyết định số 1712/2008/QĐ-BNN (thường quy định thể tích trên 200 ml và nồng độ trên 200 triệu/ml). Điều này phản ánh đặc thù sinh lý của con lai giai đoạn đầu thành thục và gợi mở sự cần thiết phải hoàn thiện chế độ dinh dưỡng khoáng vi lượng. Trong thực hành phân tích học thuật, các dữ liệu so sánh đa chỉ tiêu này được trình bày trực quan thông qua bảng đối chiếu phương sai sinh trưởng và biểu đồ cột biểu diễn biến thiên độ dày cơ thăn theo giới tính, giúp người đọc dễ dàng nhận diện ưu thế vượt trội của dòng đực DVN1.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp và khuyến nghị hành động cụ thể:
Thứ nhất, ưu tiên lựa chọn và nhân rộng tổ hợp lai DVN1 làm dòng đực cuối cùng trong các chương trình sản xuất lợn thịt thương phẩm hướng nạc. Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương cùng các trung tâm giống khu vực phía Bắc cần triển khai kế hoạch chọn giống hạt nhân trong giai đoạn 2020 - 2022, đặt mục tiêu cung ứng hàng năm trên 500 đực giống thương phẩm có mức tăng trọng bình quân trên 890 g/ngày và tỷ lệ nạc thịt xẻ vượt 61%.
Thứ hai, hoàn thiện quy trình dinh dưỡng và kỹ thuật khai thác tinh cho đàn lợn đực giống DVN1 và DVN2. Ban kỹ thuật tại Trạm nghiên cứu Kỳ Sơn và các cơ sở thụ tinh nhân tạo cần áp dụng ngay trong quý 1 và quý 2 năm tiếp theo chế độ bổ sung khoáng chất canxi và phốt pho theo tỷ lệ chuẩn 2:1 (14 - 18 g canxi và 8 - 10 g phốt pho trên 100 kg thể trọng/ngày), kết hợp bổ sung vitamin A liều lượng 200 UI/kg thức ăn cùng vitamin D và E nhằm nâng thể tích xuất tinh bình quân lên trên 200 ml và nồng độ tinh trùng đạt trên 220 triệu/ml.
Thứ ba, chuẩn hóa quy trình chăm sóc nuôi dưỡng nái DVN1 nhằm tối ưu hóa năng suất sinh sản đàn nái lai. Các trang trại chăn nuôi liên kết cần thực hiện đồng bộ trong chu kỳ sản xuất 2021 - 2023 chế độ cho ăn phân kỳ: duy trì khẩu phần protein 15 - 17% trong giai đoạn mang thai kỳ 2 và nuôi con, tập ăn sớm cho lợn con từ 7 ngày tuổi để thực hiện cai sữa sớm an toàn ở 21 - 28 ngày tuổi, hướng tới chỉ tiêu đạt trên 22 lợn con cai sữa trên nái mỗi năm với khối lượng cai sữa toàn ổ trên 55 kg.
Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng chuỗi liên kết chăn nuôi an toàn sinh học sử dụng nguồn giống DVN1. Cục Chăn nuôi thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các doanh nghiệp chế biến thịt triển khai trong giai đoạn 2021 - 2025 các mô hình hợp tác khép kín từ con giống, thức ăn đến giết mổ tiêu chuẩn, phấn đấu đạt tỷ lệ thịt lợn thương phẩm có mỡ giắt trên 2,6% chiếm 40% thị phần thịt cao cấp tại các đô thị lớn.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm trong ngành nông nghiệp:
Thứ nhất, các nhà khoa học, chuyên gia di truyền và chọn giống vật nuôi: Luận văn cung cấp hệ thống số liệu chuẩn xác về hệ số tương quan di truyền, tốc độ sinh trưởng và chỉ số dày cơ thăn của con lai Duroc nhập nội, làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các đề tài nghiên cứu chọn tạo dòng lợn đực cuối cùng phục vụ chăn nuôi công nghiệp.
Thứ hai, chủ trang trại, giám đốc kỹ thuật các doanh nghiệp chăn nuôi quy mô lớn: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng để ra quyết định nhập đàn đực giống DVN1, áp dụng công thức lai tối ưu nhằm nâng cao tỷ lệ nạc thịt xẻ lên trên 60,9% và rút ngắn thời gian nuôi thương phẩm xuống dưới 152 ngày tuổi để đạt thể trọng 100 kg.
Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Chăn nuôi - Thú y: Là nguồn học liệu tiêu chuẩn về phương pháp thiết kế thí nghiệm hiện đại, kỹ thuật siêu âm mỡ lưng P2 bằng máy ExaGo và ứng dụng phần mềm SAS 9.1 trong xử lý thống kê sinh thái học động vật.
Thứ tư, cán bộ khuyến nông và nhà hoạch định chính sách phát triển chăn nuôi: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật giống lợn quốc gia và tham mưu các chương trình tái cơ cấu giống vật nuôi ứng phó hiệu quả với dịch bệnh truyền nhiễm.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi 1: Lợn lai DVN1 và DVN2 có nguồn gốc di truyền như thế nào?
Trả lời: DVN1 và DVN2 là hai tổ hợp lai đảo được tạo ra từ việc ghép đôi giữa hai dòng lợn Duroc thuần chủng nhập khẩu từ Canada gồm dòng Magnus có thế mạnh tăng trọng nhanh trên 1000 g/ngày và dòng Kanto có chất lượng thịt đặc biệt với tỷ lệ mỡ giắt trên 3,0%.
Câu hỏi 2: Tại sao tổ hợp lai DVN1 lại được đánh giá cao hơn DVN2 về khả năng sinh trưởng?
Trả lời: Kết quả phân tích thống kê cho thấy lợn DVN1 vượt trội hơn DVN2 về khối lượng bắt đầu kiểm tra đạt 29,39 kg so với 28,88 kg và độ dày cơ thăn đạt 55,53 mm so với 54,93 mm (P < 0,05), đồng thời nái DVN1 cho số con sơ sinh sống và khối lượng cai sữa cao hơn.
Câu hỏi 3: Yếu tố giới tính ảnh hưởng như thế nào đến năng suất thịt xẻ của hai nhóm lợn?
Trả lời: Lợn đực thể hiện ưu thế sinh trưởng vượt trội so với lợn cái với tăng khối lượng ngày đạt 899,97 g/ngày so với 877,09 g/ngày, dày cơ thăn đạt 56,32 mm so với 54,14 mm và tỷ lệ nạc cao hơn đạt 61,41% so với 60,43% (P < 0,05).
Câu hỏi 4: Phẩm chất tinh dịch của lợn đực DVN1 và DVN2 có đáp ứng yêu cầu thụ tinh nhân tạo không?
Trả lời: Tinh dịch lợn đực DVN1 và DVN2 hoàn toàn đáp ứng tốt việc sản xuất tinh thương phẩm với thể tích đạt 183,33 - 194,22 ml và nồng độ 180,87 - 180,99 triệu/ml, dù các chỉ số này còn thấp hơn định mức giống gốc thuần chủng của Bộ Nông nghiệp.
Câu hỏi 5: Người chăn nuôi nên áp dụng thời gian cai sữa nào để tối ưu hóa hiệu quả sinh sản của nái lai?
Trả lời: Theo khuyến nghị kỹ thuật từ công trình, người chăn nuôi nên tập ăn sớm cho lợn con lúc 7 ngày tuổi và thực hiện cai sữa ở giai đoạn 21 đến 28 ngày tuổi để rút ngắn chu kỳ đẻ, đạt mục tiêu sản xuất trên 22 con cai sữa trên nái mỗi năm.
Kết luận
Tổng kết lại, công trình nghiên cứu đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu đề ra với những đóng góp học thuật và giá trị ứng dụng nổi bật:
- Xác định tổ hợp lai DVN1 có ưu thế sinh trưởng và năng suất sinh sản vượt trội hơn DVN2 với tăng trọng đạt 889,58 g/ngày và tỷ lệ nạc đạt 60,96%.
- Khẳng định ảnh hưởng rõ rệt của tính biệt khi lợn đực đạt tăng khối lượng 899,97 g/ngày và tỷ lệ nạc 61,41%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với lợn cái.
- Đánh giá chính xác phẩm chất tinh dịch lợn đực với thể tích xuất tinh đạt 183,33 - 194,22 ml và nồng độ tinh trùng đạt khoảng 180,9 triệu/ml.
- Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho đề tài trọng điểm cấp Bộ trong việc tuyển chọn dòng đực cuối cùng phục vụ tái cơ cấu ngành chăn nuôi phía Bắc.
- Đề xuất lộ trình kỹ thuật chi tiết về dinh dưỡng và phối giống trong giai đoạn 2021 - 2025 nhằm hoàn thiện chất lượng đàn lợn giống thương phẩm quốc gia.
Các cơ sở chăn nuôi và doanh nghiệp giống hãy chủ động liên hệ Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương để tiếp nhận chuyển giao tiến bộ di truyền từ dòng đực DVN1, từ đó nâng cao năng suất đàn lợn thịt và tối ưu hóa lợi nhuận kinh tế bền vững.