Đặt vấn đề Cây lúa (Oryza Sativa) là cây lương thực chính, đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người và trong nền kinh tế quốc dân. Trong những thập niên gần đây, sự gia tăng đáng kể về sản lượng lúa tại các quốc gia đang phát triển cùng với cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp đã mở ra sự phát triển lớn mạnh của khoa học chọn giống và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp góp phần tăng năng suất cây trồng. Ở nước ta nghề trồng lúa đã có từ lâu đời, có lẽ khi người Việt cổ xưa bắt đầu công việc trồng trọt thì cây lúa đã được quan tâm đầu tiên. Kinh nghiệm sản xuất lúa đã hình thành, tích lũy và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của dân tộc ta.
Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong nước và thế giới trên lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất lúa đã thúc đẩy mạnh mẽ ngành trồng lúa nước ta vươn lên bắt kịp trình độ tiên tiến của thế giới. Năng suất lúa ngày càng tăng và ổn định,để có được điều đó thì phần đóng góp không nhỏ phải kể tới công tác chọn tạo giống bằng các phương pháp cổ truyền, chọn lọc, lai hữu tính, ứng dụng khoa học công nghệ nuôi cấy mô, tạo ra các sản phẩm biến dị, biến đổi gen. Nhờ chính sách đổi mới và khuyến khích, đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật trong công tác lai tạo, chọn tạo giống lúa ở các trường, viện, trung tâm trong cả nước nên trong nhiều năm qua đã tạo ra nhiều giống lúa có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn và phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai của từng địa phương trong cả nước. Ngày nay nước ta đang trên con đường phát triển và hội nhập cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì diện tích đất nông nghiệp nói chung và diện tích sản xuất lúa nói riêng đang dần dần bị thu hẹp.
Do đó đòi c 2 hỏi phải thâm canh tăng vụ, dịch chuyển cơ cấu cây trồng bằng cách sử dụng những giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chất lượng gạo ngon, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh tốt.để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Hải Phòng được biết đến là một thành phố lớn thứ 3 cả nước, thuộc đô thị loại 1 cấp quốc gia, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam. Trong đó huyện Tiên Lãng là địa phương trọng điểm của ngành nông nghiệp thành phố, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lúa. Mỗi năm diện tích trồng lúa huyện Tiên Lãng đạt 14.417 ha đáp ứng nguồn nhu cầu lớn của địa phương và các tỉnh lân cận.
Hiện nay huyện cũng đưa vào canh tác các giống lúa có năng suất cao, chất lượng gạo ngon, khả năng thích nghi rộng. Tuy nhiên bộ giống lúa đang được sử dụng tại huyện tương đối nhiều, chưa trọng điểm. Vì vậy việc xác định các giống lúa có khả năng thích ứng tốt với địa phương rất quan trọng nhằm khuyến cáo, tuyên truyền cho nông dân sử dụng đúng giống, đúng thời vụ và dựa vào đặc tính của từng giống để áp dụng các biện pháp kỹ thuật hợp lý. Chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống lúa thuần chất lượng trong vụ xuân năm 2017 tại xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Xác định được 1 - 2 giống lúa thuần có thuần có năng suất, chất lượng cao, thời gian sinh trưởng trung bình, phù hợp với điều kiện sinh thái, điều kiện canh tác của địa phương bổ sung thêm vào bộ giống lúa của Thành phố. Yêu cầu - Theo dõi một số đặc điểm nông sinh học của các giống lúa thí nghiệm. - Đánh giá tình hình sâu bệnh hại của các giống lúa tham gia thí nghiệm.
c 3 - Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng của các giống lúa thí nghiệm 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Kết quả nghiên cứu cung cấp những dẫn liệu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu tuyển chọn giống lúa thuần, chất lượng cho tỉnh Hải Phòng. - Là tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học cho giáo viên, sinh viên và các nhà khoa học trong chọn tạo giống lúa thuần chất lượng cho tỉnh Hải Phòng.
Ý nghĩa thực tiễn Lựa chọn được 1 - 2 giống lúa thuần chất lượng cao bổ sung vào cơ cấu giống của Thành phố. c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc và sơ lược lịch sử phát triển cây lúa Cây lúa có nguồn gốc lịch sử rất lâu đời (cách đây khoảng 8000 năm) trải dài từ phía Nam Trung Quốc đến Đông Bắc Ấn Độ. Hiện nay, đa số các tài liệu nghiên cứu về lúa của thế giới đều thống nhất là nguồn của cây lúa trồng hiện nay là ở Đông Nam Á, cơ sở của ý kiến này là: - Diện tích lúa trồng của thế giới chủ yếu tập trung ở Đông Nam Á.
- Khí hậu Đông Nam Á nóng ẩm, mưa nhiều, ánh sáng mạnh thích hợp cho cây lúa sinh trưởng phát triển. - Có nhiều giống lúa dại là tổ tiên của giống lúa trồng hiện nay đang có mặt ở nước Đông Nam Á. - Các tài liệu lịch sử, di tích khảo cổ học đều có nói về nghề trồng lúa đã xuất hiện ở các nước Đông Nam Á như ở Trung Quốc, (cây lúa được canh tác từ 2800 năm trước công nguyên), ở Ấn Độ nghề trồng lúa có từ 1000 năm trước công nguyên và sau đó lan sang Ai Cập, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ. - Về phương diện thực vật học, lúa được trồng hiện nay là do lúa dại qua quá trình chọn lọc tự nhiên, chọn lọc nhân tạo mà hình thành.
Lúa dại hiện nay còn giữ một số đặc tính sinh trưởng tự nhiên trong các vùng đầm lầy, có thân mọc xoè, phân hoá phát dục hoa không hoàn toàn, kết hạt ít và dễ bị rụng hạt, hạt nhỏ, có râu, bông xoè. Cây lúa đã được thuần hoá từ các loài hoang dại, bán hoang dại, dị hợp tử và từ những dòng biến dị. Quá trình thần hoá cũng là quá trình của sự lai tạp tự nhiên, đột biến gen do môi trường và sự chọn lọc của con người qua hàng nghìn năm. Một số nghiên cứu cho thấy tổ tiên lúa trồng ở Châu Á c 5 (Oryza sativa) đã xuất hiện thời kỳ đồ đá mới, cách đây 10 - 15 nghìn năm từ vùng núi phía Nam của dãy Hymalaya (Ấn Độ) và miền Nam Đông Nam Á.
Phân loại Lúa thuộc họ Gramineae, chi Oryza, loài Oryza sativa. Có hơn 28 loài hoang dại đã được định danh, có số nhiễm sắc thể 2n = 2x = 24. Năm 1963, các nhà di truyền học đã công nhận còn 20 loài, trong có loài Oryza sativa là lúa trồng Châu Á và Oryza glaberrima là lúa trồng Châu Phi, còn lại là lúa hoang dại, phổ biến nhất là loài Oryza sativa còn Oryza glaberrima chỉ chiếm diện tích nhỏ ở Tây Phi. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa trên thế giới 2.
Tình hình nghiên cứu Cây lúa có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, có khả năng thích nghi rộng nên cây lúa có thể trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau và được trồng ở nhiều nơi trên thế giới. Mặc dù đến nay vẫn còn nhiều bất đồng về nguồn gốc xuất xứ của cây lúa nhưng đa số ý kiến đều cho rằng tổ tiên cây lúa có nguồn gốc ở khu vực Vân Nam (Trung Quốc) và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Các tiêu bản lúa dại và di chỉ khảo cổ đã chứng minh điều đó. Việt Nam có vinh dự được coi là cái nôi của nền văn minh lúa nước với lịch sử 4 nghìn năm.
Trên thế giới, lúa được trồng phân bố rộng khắp từ 30˚ Nam vĩ tuyến đến 40˚ Bắc vĩ tuyến. Ở phía Bắc Trung Quốc lúa được trồng ở vĩ độ 53˚ Bắc, Ở Châu Úc ở vĩ độ 35˚ Nam. Diện tích trồng lúa trên thế giới tuy lớn nhưng phấn bố không đều, khoảng 91% diện tích được trồng chủ yếu ở Châu Á, còn khoảng 9% là được phấn bố ở các Châu như Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Đại Dương. Do các Châu nay trồng chủ yếu là lúa mì.
Từ những năm đầu của thế kỷ trước trên Thế giới người ta đã quan tâm tới việc bảo tồn nguồn gen nói chung và nguồn gen cây lúa nói riêng. Ở Liên xô (cũ), ngay từ năm 1924 Viện nghiên cứu cây trồng đã được thành lập, c 6 nhiệm vụ chính của Viện là thu thập, đánh giá, bảo tồn nguồn gen. Tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO), đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu và đề ra phương hướng thúc đẩy xây dựng ngân hàng gen nhằm phục vụ cho việc giữ gìn tài nguyên cho nhân loại. Trong vùng nhiệt đới và á nhiệt đới đã hình thành nhiều tổ chức Quốc tế, đảm nhận việc thu thập tập đoàn giống thế giới, đồng thời cung cấp nguồn gen để cải tạo giống lúa trồng (Trần Đình Long, 1992) [6].
Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) thành lập năm 1960, đến năm 1962 đã tiến hành thu thập nguồn gen cây lúa, năm 1977 chính thức khai trương ngân hàng gen, tại đây đã thu thập tập đoàn cây lúa từ 110 quốc gia trên Thế giới, trong bộ sưu tập có hơn 80 nghìn mẫu, trong đó các giống lúa trồng ở Châu Á (Oryza sativa) chiếm 95%. Với nguồn tài nguyên phong phú, cùng với đội ngũ các nhà khoa học giàu trí tuệ và những phương tiện nghiên cứu hiện đại IRRI đã thực hiện được vai trò trung tâm trong cuộc cách mạng xanh, đã góp phần thúc đẩy việc sản xuất nông nghiệp của nhiều quốc gia trồng lúa ở trên Thế giới. IRRI đã có quan hệ chính thức với Việt Nam ta từ năm 1975 trong chương trình thí nghiệm giống quốc tế trước đây và hiện nay là chương trình đánh giá nguồn gen cây lúa, trong quá trình hợp tác Việt Nam đã nhập được 279 tập đoàn lúa gồm hàng ngàn mẫu giống, mang nhiều đặc điểm sinh học tốt, chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận như nhiệt độ, nhiễm mặn, hạn hán, úng lụt, vv. Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu sản xuất quan trọng không kém gì đất đai, phân bón và công cụ sản xuất.
Nếu không có giống thì không thể sản xuất ra một loại nông sản nào cả.