Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam đang trong quá trình chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ, phân tán sang phương thức chăn nuôi công nghiệp tập trung quy mô trang trại, áp dụng kỹ thuật hiện đại và an toàn sinh học. Nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng cao về số lượng và chất lượng thịt thương phẩm mà các giống lợn nội địa chưa thể đáp ứng, các cơ sở chăn nuôi đã chuyển hướng sang khai thác các tổ hợp lai nhập ngoại. Tuy nhiên, năng suất sinh sản và tỷ lệ nuôi sống của đàn lợn nái ngoại lai chịu ảnh hưởng lớn từ điều kiện khí hậu, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và áp lực dịch bệnh tại địa phương. Xuất phát từ thực tiễn sản xuất, khóa luận tốt nghiệp kỹ sư ngành Chăn nuôi thú y của sinh viên Hoàng Thị Hoài tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên (hướng dẫn bởi TS. Nguyễn Đức Trường, năm 2022) đã thực hiện đề tài: "Nghiên cứu khả năng sinh sản và tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái tại trại Chu Bá Thơ, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang".

Mục tiêu chung của đề tài là củng cố kiến thức chuyên môn, rèn luyện kỹ năng thực hành nghề nghiệp và hoàn thành chương trình đào tạo đại học. Tác giả xác định cụ thể 5 nhiệm vụ nghiên cứu gồm:

  1. Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sinh sản và đàn lợn con theo mẹ.
  2. Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ.
  3. Nghiên cứu, đánh giá các chỉ tiêu khả năng sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại cơ sở.
  4. Thực hiện nghiêm túc các yêu cầu, quy định kỹ thuật và an toàn dịch bệnh tại cơ sở thực tập.
  5. Rèn luyện kỹ năng lâm sàng và tay nghề thực hành chăn nuôi thú y trong môi trường thực tế.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là đàn lợn nái lai F2 [công thức lai: đực Duroc x cái (Landrace x Yorkshire)], lợn nái lai F1 (đực Landrace x cái Yorkshire) và đàn lợn con giai đoạn theo mẹ. Phạm vi không gian nghiên cứu được tiến hành tại trang trại chăn nuôi lợn tư nhân Chu Bá Thơ, tọa lạc tại xóm 5, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang với tổng diện tích mặt bằng khoảng 5.000 m². Phạm vi thời gian theo dõi, thu thập số liệu kéo dài gần 6 tháng, từ ngày 10/12/2021 đến ngày 31/05/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết chuyên ngành về đặc điểm giống, sinh lý học sinh sản và bệnh học gia súc:

  • Đặc tính các giống lợn ngoại: Tổng hợp đặc điểm ngoại hình, khả năng tăng trọng, hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) và năng suất sinh sản của ba giống thuần chủng nhập ngoại gồm Yorkshire (Anh), Landrace (Đan Mạch) và Duroc (Mỹ) làm cơ sở cho việc tạo con lai thương phẩm.
  • Sinh lý sinh sản gia súc cái: Phân tích quy luật thành thục về tính và thể vóc (tiêu chuẩn phối giống lần đầu khi lợn đạt 8-9 tháng tuổi, khối lượng 100-110 kg); cơ chế chu kỳ động dục 21 ngày qua 4 giai đoạn (trước động dục, động dục, sau động dục, yên tĩnh); sinh lý thời kỳ mang thai kéo dài trung bình 114 ngày chia làm 3 giai đoạn (giai đoạn trứng từ ngày 1-10, giai đoạn phôi từ ngày 11-40, giai đoạn bào thai từ ngày 41 đến khi đẻ); sinh lý đẻ 3 thời kỳ (mở cổ tử cung, sổ thai, sổ nhau) dưới tác động của các hormone Relaxin, PGF2α và Oxytocin; quy luật tiết sữa theo phản xạ thần kinh - thể dịch gồm các pha kích thích bú, nằm im và mút sữa.
  • Bệnh học sinh sản và lợn con: Cơ chế bệnh sinh của các hội chứng viêm tử cung sau đẻ (do Staphylococcus aureus, Streptococcus hemolitica, E. coli, Proteus, Klebsiella), bệnh viêm vú và sót nhau thai; đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn con sơ sinh (dung tích dạ dày 0,03 lít tăng lên 1,80 lít ở 60 ngày tuổi, thiếu hụt acid chlohydric tự do và men tiêu hóa), cơ chế điều tiết thân nhiệt yếu (tỷ lệ nước chiếm 82%, mất nhiệt nhanh sau đẻ) và khả năng miễn dịch thụ động hoàn toàn phụ thuộc kháng thể ɣ-globulin hấp thu từ sữa đầu trong 24-48 giờ đầu đời.

Về phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu:

  • Phương pháp thu thập thông tin: Điều tra gián tiếp thông qua phỏng vấn người quản lý trang trại, cán bộ kỹ thuật phụ trách chuồng nuôi, công nhân trực tiếp chăm sóc; tổng hợp dữ liệu từ hệ thống sổ sách ghi chép, biểu mẫu theo dõi phối giống, đỡ đẻ và dịch bệnh tại cơ sở.
  • Phương pháp theo dõi thực nghiệm: Trực tiếp tham gia và ghi nhận quy trình chăm sóc, đỡ đẻ, can thiệp đẻ khó trên 68 nái (31 nái F2 và 37 nái F1); theo dõi quá trình sinh trưởng và các can thiệp ngoại khoa trên 998 lợn con sinh ra.
  • Hệ thống chỉ tiêu theo dõi: Số con đẻ ra/nái; số con sống đến 24 giờ/nái; số con cai sữa/nái; tỷ lệ sơ sinh sống (%); tỷ lệ sống đến cai sữa (%); khối lượng sơ sinh (kg/con); khối lượng cai sữa (kg/con); thời gian mang thai (ngày); khoảng cách lứa đẻ (ngày); tiêu tốn thức ăn trên một lợn con cai sữa và trên một kg lợn cai sữa.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả, tính tỷ lệ phần trăm (%) bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu rõ tính cấp thiết của việc áp dụng khoa học kỹ thuật và an toàn sinh học vào chăn nuôi lợn trang trại tập trung. Đặt vấn đề nghiên cứu năng suất sinh sản của hai nhóm nái ngoại lai F1 và F2 nhằm cung cấp dữ liệu thực tế cho công tác quản lý con giống, đồng thời xác lập hệ thống mục tiêu, yêu cầu chuyên môn cần đạt được trong đợt thực tập tốt nghiệp.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất và nhân sự tại trại Chu Bá Thơ. Trang trại nằm biệt lập giữa cánh đồng rộng, gần trục Quốc lộ 37, nhiệt độ trung bình năm 24°C; cơ cấu nhân sự gồm 1 chủ trại, 1 kỹ thuật viên, 2 công nhân và 2 sinh viên thực tập. Tính đến tháng 5/2022, đàn lợn của trại gồm 3 đực giống (2 đực Duroc khai thác tinh phối nái thương phẩm, 1 đực lai Yorkshire x Landrace làm đực thí tình), 70 nái hậu bị, 300 nái sinh sản, 520 lợn con cai sữa và 1.500 lợn thịt. Tổng quan phân tích các thuận lợi về quản lý và giao thông, song song với khó khăn về rủi ro dịch tả lợn châu Phi, khấu hao chuồng trại và áp lực xử lý nước thải. Phần cơ sở khoa học tổng thuật đầy đủ các tài liệu sinh lý, bệnh lý và các nghiên cứu trong nước (Trần Ngọc Bích, Nguyễn Xuân Bình, La Văn Công) cũng như quốc tế (Mingming Ju & Xiaonv Wang 2022 về thời gian đẻ; Nam NH & Sukon P 2020 về can thiệp Oxytocin; Jinsu Hong và cs 2014 về bổ sung L-arginine).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành

Tác giả chuẩn hóa các quy trình kỹ thuật áp dụng tại trại:

  • Quy trình thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh De Heus: Chu kỳ ăn chia theo thể trạng (gầy, lý tưởng, béo) tại chuồng bầu; giảm thức ăn trước đẻ 1 tuần và tăng dần sau khi đẻ đạt mức ăn tự do từ ngày thứ 8.
  • Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo 6 bước: Kiểm tra tinh dịch dưới kính hiển vi, nâng nhiệt tinh dịch mùa đông lên 28-32°C; vệ sinh âm hộ; phối tinh lặp 3 lần cách nhau 12 giờ; sử dụng que phối nông cho nái hậu bị và que phối sâu cho nái rạ; thời gian truyền tinh 7-10 phút.
  • Kỹ thuật đỡ đẻ và can thiệp đẻ khó: Tiêm 2 ml Oxytocin khi nái đã sinh trên 5 con; can thiệp móc thai bằng tay có sát trùng và bôi trơn bằng Vaseline khi nái rặn yếu trên 1 giờ không ra con; thụt rửa tử cung sau sinh bằng 1 lít nước ấm pha 10 ml dung dịch Dạ Hương kết hợp tiêm kháng sinh Amox (3 mũi trong 6 ngày, liều 20 ml/con).
  • Quy trình chăm sóc lợn con: Lau khô dịch nhớt, cắt rốn chừa 2,5 cm, sát trùng cồn Iod; duy trì nhiệt độ quây úm từ 30-32°C tuần đầu; cho bú đủ 250 ml sữa đầu trong 14 giờ đầu; mài nanh, cắt đuôi 2 cm lúc 4-5 giờ sau sinh; tiêm bổ sung sắt FER-B12 20% AP (2 ml/con), nhỏ phòng cầu trùng; thiến lợn đực lúc 5-7 ngày tuổi; tập ăn sớm từ 3-5 ngày tuổi bằng cám 3800 và cai sữa ở 25-28 ngày tuổi kết hợp kỹ thuật san đàn ghép bầy ở mốc 3-5 ngày và 10 ngày tuổi.
  • Quy trình vệ sinh thú y: Thiết lập lịch dọn phân, cào phân liên tục, xịt gầm chuồng, rửa máng ăn, rắc vôi bột và phun hóa chất sát trùng định kỳ.

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả

Trình bày các số liệu thực tế qua quá trình theo dõi:

  • Công tác đỡ đẻ: Thực hiện trên 68 nái, ghi nhận 53 ca đẻ thường (77,94%) và 15 ca đẻ khó (22,06%). Có 4 ca đẻ khó nái già suy nhược phải can thiệp truyền tĩnh mạch dịch đường và muối (chiếm 26,67% tổng số ca đẻ khó). Tỷ lệ đẻ khó ở nái F1 (24,32%) cao hơn nái F2 (19,35%) do nái F1 có tuổi đời và thứ tự lứa đẻ cao hơn.
  • Công tác chăm sóc lợn con: Hộ sinh tổng cộng 998 lợn con, số con sống sau 24 giờ đạt 874 con (87,58%). Thực hiện mài nanh, bấm đuôi, tiêm sắt và nhỏ vắc xin cầu trùng cho 874 con với tỷ lệ an toàn đạt 100%. Thực hiện thiến 402 lợn đực, đạt an toàn 396 con (98,51%), có 6 con chết do biến chứng sa ruột bẩm sinh.
  • Năng suất sinh sản của hai dòng nái F1 và F2: Trình bày chi tiết các sai khác mang tính di truyền về số con sơ sinh, tỷ lệ sống, khối lượng sơ sinh và mức tiêu tốn thức ăn.
  • Biện pháp nâng cao khả năng sinh sản và công tác an toàn sinh học: Đề xuất tiêu chuẩn chọn giống hậu bị, chế độ dinh dưỡng cho đực giống (bổ sung trứng gà, vận động hợp lý), kỹ thuật phối tinh và thống kê 169 lần phun sát trùng, 80 lần rắc vôi, 20 lần phun vôi nước, 169 lần xịt gầm/rửa máng tại cơ sở.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng quát về khả năng thích nghi và năng suất sinh sản của đàn nái ngoại tại trang trại Chu Bá Thơ; kiến nghị cơ sở duy trì cơ cấu đàn phối hợp giữa hai tổ hợp lai F1 và F2, đồng thời đầu tư cải tạo hệ thống xử lý nước thải và nâng cấp chuồng trại hư hỏng.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã thu thập và so sánh chi tiết các chỉ tiêu sinh sản giữa 31 nái F2 và 37 nái F1 (tổng số 68 nái đẻ) theo bảng số liệu thực nghiệm sau:

Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị tính Nhóm nái F2 Nhóm nái F1 Toàn đàn theo dõi
Số nái theo dõi Con 31 37 68
Thời gian mang thai Ngày 114,21 114,33 114,27
Khoảng cách lứa đẻ Ngày 147,79 147,90 147,84
Số con đẻ ra/nái Con 13,55 15,62 14,68
Số con sống đến 24 giờ/nái Con 12,55 13,11 12,85
Số con cai sữa/nái Con 11,87 11,41 11,61
Tỷ lệ sơ sinh sống/nái % 92,62 83,91 87,53
Tỷ lệ sống đến cai sữa/nái % 94,58 87,03 90,35
Khối lượng sơ sinh bình quân Kg/con 2,11 1,76 1,94
Khối lượng cai sữa bình quân Kg/con 6,81 6,78 6,80
Tiêu tốn thức ăn/lợn cai sữa Kg 32,70 35,05 33,95
Tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa Kg 4,82 5,07 4,96

Các kết quả rút ra từ số liệu thực nghiệm:

  • Nhóm nái F1 có ưu thế vượt trội về số con đẻ ra trên lứa (đạt 15,62 con/nái, cao hơn nái F2 là 13,55 con/nái; chênh lệch 2,07 con/lứa).
  • Nhóm nái F2 thể hiện ưu thế về sức sống và thể vóc: Tỷ lệ sơ sinh sống đạt 92,62% (so với F1 là 83,91%); tỷ lệ sống đến cai sữa đạt 94,58% (so với F1 là 87,03%); khối lượng sơ sinh bình quân đạt 2,11 kg/con (cao hơn nái F1 đạt 1,76 kg/con).
  • Mặc dù khối lượng sơ sinh có sự chênh lệch lớn giữa hai nhóm, nhưng khối lượng khi cai sữa (25-28 ngày tuổi) lại đạt mức tương đương (F2 đạt 6,81 kg so với F1 đạt 6,78 kg). Kết quả này phản ánh tính hiệu quả của kỹ thuật san ghép bầy đàn được tác giả thực hiện ở giai đoạn 3-5 ngày và 10 ngày tuổi.
  • Về hiệu quả sử dụng thức ăn, nái F2 tiêu tốn ít thức ăn hơn để sản xuất một đơn vị lợn cai sữa (32,70 kg TAHH/lợn cai sữa và 4,82 kg TAHH/kg lợn cai sữa) so với nái F1 (35,05 kg và 5,07 kg).

Về mặt đóng góp giải pháp kỹ thuật, khóa luận đề xuất:

  • Khuyến nghị cơ sở chăn nuôi kết hợp khai thác đồng thời cả hai dòng nái F1 và F2 nhằm tận dụng ưu thế số con đẻ ra của dòng F1 và ưu thế về tỷ lệ sống, khối lượng sơ sinh và chỉ số chuyển hóa thức ăn của dòng F2.
  • Chuẩn hóa quy trình trợ sản: Sử dụng Oxytocin có kiểm soát (chỉ tiêm sau khi nái đã sinh trên 5 con), kỹ thuật thụt rửa đường sinh dục định kỳ sau sinh bằng dung dịch vệ sinh chuyên dụng kết hợp kháng sinh để giảm thiểu tỷ lệ mắc hội chứng viêm tử cung - mất sữa.
  • Xây dựng tiêu chí loại thải nái rõ ràng: Nái rạ sau lứa thứ 8, nái bại liệt không phục hồi, phối 2 chu kỳ liên tiếp không đậu thai, tổng số con sơ sinh của 2 lứa liên tiếp ≤9 con, hoặc nái viêm tử cung thể mủ nặng phải kiên quyết loại thải để tối ưu chi phí đàn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số mặt hạn chế xuất phát từ điều kiện thực tế:

  • Đề tài chỉ thực hiện trong phạm vi một trang trại tư nhân với quy mô 300 nái sinh sản; thời gian nghiên cứu kéo dài 6 tháng (từ tháng 12 đến tháng 5) nên chưa theo dõi được biến động các chỉ tiêu sinh sản qua trọn vẹn chu kỳ thời tiết 4 mùa trong năm.
  • Cỡ mẫu theo dõi dừng lại ở 68 cá thể nái đẻ (31 nái F2 và 37 nái F1), chưa khảo sát năng suất tích lũy qua toàn bộ vòng đời khai thác của từng cá thể lợn nái.
  • Trang thiết bị và cơ sở vật chất chuồng trại tại cơ sở đã có dấu hiệu xuống cấp; hệ thống xử lý nước thải chăn nuôi còn gặp khó khăn, chưa có số liệu đo đạc chỉ tiêu vi sinh hoặc môi trường nước thải.
  • Việc chẩn đoán các ca bệnh sản khoa và bệnh lợn con chủ yếu dựa trên triệu chứng lâm sàng và kinh nghiệm thực địa, chưa tiến hành lấy mẫu phân lập vi khuẩn hay làm kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở:

  • Mở rộng quy mô khảo sát trên nhiều trang trại chăn nuôi tập trung tại khu vực trung du miền núi phía Bắc để có số liệu so sánh diện rộng.
  • Theo dõi liên tục các chỉ tiêu sinh sản của đàn nái F1 và F2 qua nhiều lứa đẻ liên tiếp (từ lứa 1 đến lứa 8) để đánh giá độ bền sản xuất và hiệu quả kinh tế dài hạn.
  • Tiến hành các xét nghiệm vi sinh chuyên sâu nhằm xác định chính xác các chủng vi khuẩn gây viêm tử cung, tiêu chảy trên đàn lợn tại địa phương, từ đó xây dựng phác đồ kháng sinh điều trị đặc hiệu.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo thực tiễn đối với:

  • Sinh viên ngành Chăn nuôi, Thú y và Chăn nuôi Thú y: Tài liệu cung cấp phương pháp theo dõi các chỉ tiêu năng suất sinh sản gia súc cái, cấu trúc một báo cáo thực tập tốt nghiệp chuẩn mực và số liệu đối chứng thực tế giữa các tổ hợp lai lợn ngoại.
  • Kỹ thuật viên và chủ trang trại chăn nuôi lợn: Tham khảo trực tiếp quy trình kỹ thuật thụ tinh nhân tạo 6 bước, kỹ thuật đỡ đẻ và can thiệp đẻ khó bằng tay, kỹ thuật ghép đàn cân đối thể vóc lợn con, cùng quy trình thụt rửa tử cung phòng ngừa bệnh sản khoa sau sinh.
  • Các phần nội dung đáng tham khảo nhất: Bảng số liệu đối sánh thực nghiệm năng suất sinh sản F1 và F2 (Bảng 4.3); biểu đồ và chương trình cho ăn của thức ăn De Heus theo từng giai đoạn sinh lý lợn nái; các tiêu chí cụ thể để sàng lọc và loại thải lợn nái hậu bị, nái rạ kém năng suất.

Câu hỏi thường gặp

1. Khả năng sinh sản của nhóm lợn nái lai F2 có điểm gì khác biệt so với nhóm nái F1 tại cơ sở?
Dữ liệu thực nghiệm trên 68 nái cho thấy nhóm nái F1 vượt trội về số con đẻ ra/nái (15,62 con so với 13,55 con của nái F2). Ngược lại, nhóm nái F2 vượt trội về tỷ lệ sơ sinh sống (92,62% so với 83,91%), tỷ lệ sống đến cai sữa (94,58% so với 87,03%), khối lượng sơ sinh bình quân (2,11 kg/con so với 1,76 kg/con) và mức tiêu tốn thức ăn cho mỗi kg lợn cai sữa thấp hơn (4,82 kg so với 5,07 kg).

2. Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho lợn nái tại trang trại Chu Bá Thơ được thực hiện theo quy trình nào?
Trại thực hiện phối lặp 3 lần, mỗi lần cách nhau 12 giờ vào thời điểm yên tĩnh (sáng trước 7h30, chiều sau 16h) khi nái ở trạng thái mê ì. Liều tinh bảo quản ở 17°C, được ngâm nâng nhiệt vào nước ấm 28-32°C trong mùa đông và kiểm tra chất lượng dưới kính hiển vi trước khi phối. Sử dụng que phối nông cho nái hậu bị, que phối sâu cho nái rạ; thời gian truyền tinh kéo dài từ 7-10 phút kết hợp massage kích thích.

3. Tỷ lệ đẻ khó trên đàn lợn nái theo dõi là bao nhiêu và được xử lý như thế nào?
Trong 68 ca đỡ đẻ có 15 ca đẻ khó (chiếm 22,06%), tỷ lệ đẻ khó ở nái F1 (24,32%) cao hơn nái F2 (19,35%). Trường hợp nái rặn yếu hoặc trên 1 giờ không ra con được can thiệp tiêm 2 ml Oxytocin; nếu ngôi thai nghịch hoặc thai to sẽ can thiệp móc thai bằng tay có sát trùng và bôi trơn Vaseline. Có 4 ca nái già suy kiệt sau đẻ khó phải can thiệp truyền tĩnh mạch dung dịch đường và nước muối.

4. Kỹ thuật ghép bầy đàn lợn con được tiến hành ra sao để khắc phục chênh lệch khối lượng sơ sinh?
Trang trại tiến hành ghép đàn ngay sau khi sinh (giữ lại trên 50% đàn gốc); sau đó lặp lại vào mốc 3-5 ngày tuổi và 10 ngày tuổi bằng cách chuyển những con to khỏe của nái ít sữa sang ô nái kém sữa, đồng thời chuyển lợn con gầy yếu sang nái tốt sữa. Thao tác này giúp kích thích tiết sữa ở nái yếu và giúp đàn con đạt thể vóc đồng đều khi cai sữa (F2 đạt 6,81 kg và F1 đạt 6,78 kg).

5. Tiêu chuẩn nào được áp dụng để loại thải lợn nái rạ tại trang trại?
Nái rạ bị loại thải khi thuộc các trường hợp: Kết thúc lứa đẻ thứ 8; bại liệt chân không phục hồi sau sinh; lộn tử cung; mắc bệnh truyền nhiễm hoặc bệnh nội khoa điều trị không khỏi; viêm vú áp xe; phối giống liên tục 2 chu kỳ không đậu thai; năng suất sinh sản 2 lứa liên tiếp có tổng con sinh ≤9; chậm lên giống sau 25 ngày cai sữa; sảy thai điều trị sau 28 ngày không giống lại; hoặc lợn lốc mủ nặng dạng bã đậu mùi hôi tanh.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hoàng Thị Hoài đã phản ánh toàn diện thực trạng chăn nuôi và năng suất sinh sản của hai tổ hợp lai lợn nái F1 và F2 tại trang trại Chu Bá Thơ (Bắc Giang). Kết quả nghiên cứu khẳng định ưu thế về số lượng con sinh ra của nái F1 và ưu thế về khối lượng sơ sinh, tỷ lệ sống cũng như hiệu quả sử dụng thức ăn của nái F2. Các quy trình kỹ thuật về thụ tinh nhân tạo, đỡ đẻ, ghép đàn và an toàn sinh học được tổng hợp chi tiết, cung cấp nguồn dữ liệu thực nghiệm có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác đào tạo chuyên ngành Chăn nuôi thú y và quản lý trang trại chăn nuôi lợn sinh sản.