Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc và đặc điểm sinh học, sinh lý, sinh dục của lợn Móng Cái Các giống vật nuôi địa phương đã được hình thành từ lâu đời trong hoàn cảnh các nền sản xuất kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi với các tập quán canh tác khác nhau của các vùng sinh thái Nông nghiệp khác nhau. Đặc điểm chung của các giống địa phương thường là có hướng sản xuất kiêm dụng. Vì vậy, tầm vóc nhỏ, năng suất thấp.
Tuy nhiên, ưu điểm lớn nhất của các giống địa phương là phù hợp với điều kiện sản xuất chăn nuôi, tận dụng điều kiện thiên nhiên cũng như sản phẩm phụ của cây trồng, thích ứng với môi trường khí hậu nóng ẩm, khả năng chống chịu bệnh tật cao. Từ năm 1975 lợn Móng Cái được lan nhanh ra các tỉnh miền Bắc và miền Trung nước ta. Nguồn gốc lợn Móng Cái Lợn Móng Cái là giống lợn phổ biến nhất của Việt Nam, có nguồn gốc từ huyện Hà Cối, nay thuộc huyện Đầm Hà và Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh hiện nay được nuôi nhiều ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng và một số tỉnh Trung du, miền núi phía Đông Bắc nước ta (Nguyễn Văn Đức, 2007) [14]. Đặc điểm sinh học của lợn Móng Cái Lợn Móng Cái thuộc lớp động vật có vú Maminalia, bộ guốc chẵn Artiodactyla, thuộc họ Sllidae, chủng Sus, thuộc loài Sus domesticus (Nguyễn Văn Đức 2007) [14].
Lợn Móng Cái có ngoại hình đặc trưng: lông da có màu đen vá trắng. Lưng và mông có dải đen hình yên ngựa (đây là đặc điểm ngoại hình nổi bật nhất), da mỏng mịn, lông thưa và thô. Đầu to, đen, có đốm trắng ở giữa trán hình tam giác hoặc hình thoi. Tai đen, nhỏ và nhọn.
Miệng nhỏ dài, trắng, có nếp nhăn to và ngắn ở miệng. Giữa vai và cổ có một vành trắng cắt ngang kéo dài đến bụng và bốn chân. Cổ to, ngắn. Ngực nở và sâu.
Lưng dài hơi võng, bụng xệ nhưng tương đối gọn, mông rộng và xuôi. Bốn chân trắng, tương đối cao, thẳng, móng xoè. Nhìn chung, lợn Móng Cái có khả năng sinh sản tốt (đẻ 11 - 16 con/lứa), có từ 12 - 16 vú, tuổi phối lần đầu tiên có hiệu quả nhất từ 6 - 8 tháng, số con sơ sinh n 5 sống/ổ và số con cai sữa/ổ cao, trung bình từ 9 đến 11 con. Khối lượng sơ sinh thấp: 0,5 - 0,6 kg và khối lượng cai sữa lúc 45 - 50 ngày, 5 - 6 kg/con.
Số lứa đẻ khá cao, trung bình từ 1,9 - 2,1 lứa/năm. Lợn Móng Cái có khả năng sinh sản kéo dài, cho 10 - 15 lứa/nái. Khả năng tăng khối lượng 327g/ngày, lợn thịt có tốc độ tăng trọng 390 - 420g/ngày. Khả năng tiêu tốn thức ăn 5,0 - 5,5 kg thức ăn/kg tăng trọng, tỉ lệ thịt nạc thấp 35 - 39%, độ dày mỡ lưng cao.
Hiện nay, lợn Móng Cái chủ yếu được sử dụng làm nái nền lai với lợn đực ngoại sản xuất lợn lai F1 nuôi thịt hoặc dùng làm nái trong các công thức lai phức tạp. + Tuổi thành thục về tính Tuổi thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và khả năng sinh sản. Ở gia súc, tuổi thành thục về tính có các biểu hiện như sau: Bộ máy sinh dục đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái rụng trứng, con đực sinh tinh. Tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ tinh.
Các đặc tính sinh dục thứ cấp bắt đầu các phản xạ sinh dục. Con cái động dục, con đực có phản xạ giao phối. Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, lợn nái trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, thì sẽ thành thục về tính ở độ tuổi trung bình là 188,5 ngày, với trọng lượng 80 kg. Nhưng nếu chúng ta cho lợn ăn hạn chế thì sẽ là 234,8 ngày, với trọng lượng 48,4 kg.
Dinh dưỡng tốt thì sẽ rút ngắn được thời gian thành thục về tính từ 4 - 16 ngày so với mức chỉ đáp ứng được 60 - 70% nhu cầu dinh dưỡng. Mùa vụ: lợn con đẻ vào mùa đông thì thành thục sớm hơn về mùa hè Nói cách khác, thành thục về tính của gia súc cái được đánh giá bằng hiện tượng động dục và rụng trứng. Lợn cái sau khi thành thục về tính thì biểu hiện động dục, lần thứ nhất thường không rõ ràng và tiếp sau đó ở các kỳ sau sẽ dần đi vào quy luật. Tùy thuộc vào loại gia súc khác nhau mà thời gian thành thục về tính khác nhau.
Tuổi thành thục về tính của lợn cái khoảng 6 tháng, giao động từ 5 - 8 tháng tuổi. Lợn cái nội thành thục sớm hơn lợn cái ngoại. Mặt khác, tuổi thành thục về tính sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, cho nên để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cơ thể mẹ, đảm bảo sự sinh trưởng và phẩm chất giống ở thế hệ sau, thì ta nên cho gia súc phối giống khi chúng đã thành thục về thể vóc. Với lợn cái hậu bị thường cho phối giống lần đầu lúc 8 tháng tuổi.
Tuy nhiên, không cho lợn phối quá muộn vì sẽ ảnh hưởng tới hoạt n 6 động sinh sản của con cái và ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một đời lợn nái. Tuổi phối giống lần đầu của lợn nái ngoại thường vào lúc 8 tháng tuổi và khối lượng đạt 100 – 110 kg. Trong thực tế sản xuất thường bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục đầu và bắt đầu phối ở chu kỳ động dục thứ 3. + Chu kỳ động dục Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái phát triển mạnh đặc biệt là cơ quan sinh dục có biến đổi kèm theo sự rụng trứng.
Sự phát triển của trứng dưới sự điều tiết của hooc môn tùy theo tuyến yên làm cho trứng chín và rụng một cách có chu kỳ. Nó biểu hiện bằng những triệu trứng động dục theo chu kỳ, được gọi là chu kỳ động dục. Thời gian một chu kỳ động dục được tính từ lần rụng trứng trước tới lần rụng trứng sau. Chu kỳ động dục của lợn thường kéo dài từ 20 - 33 ngày nhưng có thể giao động trong phạm vi 18 - 25 ngày, trung bình là 21 ngày và được chia làm 4 giai đoạn sau: Giai đoạn trước động dục (1 - 2 ngày): quan sát thấy lợn nái có hiện tượng xưng huyết ở âm hộ và âm hộ bắt đầu sưng lên, hơi mở ra và có màu hồng tươi, có tiết chất nhờn loãng chảy ra.
Lợn biếng ăn thích nhảy lên lưng con khác nhưng không thích con khác nhảy lên lưng mình. Giai đoạn động dục hay chịu đực (2 - 3 ngày): giai đoạn này gồm 3 thời kỳ: hưng phấn, chịu đực, không chịu đực. Ở giai đoạn này lợn nái có hoạt động sinh dục mãnh liệt, âm hộ mở to hơn, chuyển sang màu mận chín, dịch nhờn keo đặc, lợn rất biếng ăn, nếu gặp lợn đực nhảy lên lưng thì sẽ đứng yên (đây là hiện tượng chịu đực hay mê đực). Ở giai đoạn này nếu trứng gặp tinh trùng và được thụ tinh thì sẽ chuyển sang giai đoạn chửa, ngược lại nếu trứng không được thụ tinh sẽ chuyển sang giai đoạn sau động dục.
Giai đoạn sau động dục (3 - 4 ngày): giai đoạn này có dấu hiệu sinh dục giảm dần. Lợn giảm hưng phấn thần kinh, sự tăng sinh và tiết dịch của tử cung ngưng lại, âm hộ teo dần và tái nhợt. Lợn cái không muốn gần con đực, không cho con khác nhảy lên lưng nó. Con vật dần trở lại trạng thái bình thường, ăn uống bình thường.
Giai đoạn nghỉ ngơi hay giai đoạn yên lặng sinh dục (12 - 14 ngày): đây là giai đoạn dài nhất thường bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi trứng rụng mà không thụ n 7 tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu hủy. Ở giai đoạn này hoàn toàn không có phản xạ sinh dục. Âm hộ teo nhỏ, màu trắng nhạt, lợn ăn uống bình thường. Đây là giai đoạn nghỉ ngơi để khôi phục lại cấu tạo chức năng cũng như khôi phục lại năng lượng cho chu kỳ tiếp theo.
Chu kỳ động dục, thời gian động dục cũng như các biểu hiện về hành vi sinh dục ở lợn cái thay đổi tùy theo giống, lứa tuổi, mùa vụ, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc. Hơn nữa, lợn nái hậu bị thường có chu kỳ động dục dài hơn lợn nái cơ bản hoặc nếu chăm sóc nuôi dưỡng kém thì chu kỳ động sẽ kéo dài. Một số đề tài nghiên cứu về giống lợn Móng Cái Giống lợn Móng Cái có tính di truyền tương đối ổn định, sự biến dị không lớn lắm, nhất là màu lông rất thống nhất. Tất cả đầu lợn đen, giữa trán có một diểm trắng, tất cả đều có cổ khoang chia lợn ra 2 phần.
Có 2 loại hình: Loại Móng Cái xương to và loại Móng Cái xương nhỏ. Loại xương có tầm vóc nhỏ, đầu nhỏ, mõm hơi dài và thẳng, chân nhỏ đi bàn, lưng hơi võng. Loại hình xương to thì ngược lại, đầu to, mõm dài vừa phải và bè, trán có nếp nhăn, tai to ngang, chân to, tầm vóc trung bình, có 12 vú trở lên, thể chất yếu (Nguyễn Khánh Quắc và cộng sự năm 1995) [22]. Theo Vũ Kính Trực (1995) [28]: Lợn Móng Cái nuôi ở Tràng Bạch qua 95 lứa đẻ từ năm 1987 – 1991 cho thấy: Trung bình số con sơ sinh đẻ ra còn sống là 11,64 con, lúc 30 tuổi là 8,65 con, lúc 60 ngày tuổi là 8,51 con.
Những số liệu trên cho thấy rõ tính đẻ sai con của lợn Móng Cái (chắc chắn nhờ cùng 1 cơ chế di truyền có được từ giống lợn Trung Quốc). Sở dĩ số lượng con 1 tháng tuổi và 2 tháng tuổi thấp là do chăm sóc nuôi dưỡng kém. Như vậy, lợn Móng Cái Việt Nam phải có giá trị như một nguồn dự trữ gen, về tính sinh sản cao bằng nhân thuần chủng một cách có hệ thống, có thể pha thêm máu những lợn giống Thái Hồ của Trung Quốc nhất là giống Mai Sơn để kế thừa và phát triển tính cao sản của nó. Tác giả cho biết có một lợn Móng Cái ở Quảng Uyên, Quảng Ninh, trong 5 năm lứa nào cũng đẻ trên dưới 20 con, kỷ lục là 27 con.
Một lợn Móng Cái khác cũng ở Quảng Ninh qua 3 năm nuôi đẻ 2 lứa/năm và mỗi lứa 17 – 18 con, kỷ lục là 24 con. So với lợn Thái Hồ của Trung Quốc kỷ lục 32 con/lứa thì lợn Móng Cái của ta cũng chẳng kém lợn Thái Hồ là mấy.