PHẦN MỞ ĐẦU 1. Trên thế giới hiện nay, ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng đang rất phát triển và chiếm một vị trí rất quan trọng trong cuộc sống và đã đáp ứng được nhu cầu phong phú của con người trong xã hội. Theo báo cáo của hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam (VIPA), năm 2018 ước tính sản lượng thịt gia cầm đạt trên 1,1 triệu tấn, tăng 8%; sản lượng trứng các loại đạt 11,594 tỷ quả tăng 9%; giá trị sản xuất tăng 6%, khoảng 48,76 nghìn tỷ đồng; tỷ trọng giá trị sản xuất ngành gia cầm đạt 22,2% toàn ngành nông nghiệp. Ở Việt Nam, chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực quan trọng trong nền nông nghiệp (Chăn nuôi, trồng trọt) nước nhà, trong đó chăn nuôi gia cầm ngày càng phát triển, đóng góp một phần không nhỏ trong cơ cấu ngành chăn nuôi.
Theo số liệu thống kê gần đây, tổng đàn gia cầm Việt Nam vào khoảng 341,9 triệu con (năm 2016), khoảng 361,2 triệu con (năm 2017) trong đó đàn gà chiếm 76%. Ngành chăn nuôi gia cầm cung cấp tổng sản lượng thịt khoảng 116,2 triệu tấn, tổng sản lượng trứng khoảng 70,8 triệu tấn với 1338 tỷ quả trứng (năm 2015). Đặc biệt, ngành chăn nuôi gia cầm đang chuyển dần từ chăn nuôi phân tán sang chăn nuôi tập trung với số lượng lớn làm năng suất càng cao và lợi nhuận lớn. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng số lượng và năng suất thì yêu cầu về chất lượng thịt và trứng ngày càng cao.
Thời gian qua, ngành chăn nuôi còn bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid 19 – một đại dịch bùng phát trên toàn cầu vào năm 2019. Sản xuất chăn nuôi bị ảnh hưởng mạnh. Ngành chăn nuôi phải đối mặt với khó khăn gián đoạn lưu thông, nhu cầu thị trường giảm. Đặc biệt chăn nuôi lợn còn phải đối mặt với Dịch tả lợn Châu Phi liên tục bùng phát và lan rộng… thì nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm và trứng lại tăng.
1 Để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng tăng, đòi hỏi phải lựa chọn giống gà có năng suất và chất lượng cao đồng thời thích ứng với môi trường chăn nuôi tại nước ta. Trong quá trình hội nhập quốc tế toàn cầu, ngành chăn nuôi tiến hành nhập một số giống gà từ nước ngoài và tiến hành nuôi bao gồm các giống gà hướng trứng và hướng thịt. Trong đó, giống gà JA57 là giống gà được công ty TNHH MTV Gà giống DABACO tại Xã Lạc Vệ, Huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh chọn lọc và lai tạo với nhiều ưu thế. Để theo dõi và đánh giá khả năng sinh sản của gà giống bố mẹ chúng tôi tiến hành đề tài: “Khả năng sinh sản của đàn gà JA57 - Dabaco nuôi tại Công ty TNHH MTV gà giống Dabaco xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh”.MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 1.
Mục đích Đánh giá được khả năng sinh sản của đàn gà JA57 nuôi tại Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco, xã Lạc Vệ, Huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh. Yêu cầu Theo dõi, ghi chép số liệu đầy đủ, đảm bảo khách quan, trung thực. Đánh giá được về khả năng sinh sản của đàn gà JA57 nuôi tại Công ty TNHH MTV Gà giống Dabaco. Nắm được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà JA57, thực hiện nghiêm túc theo quy trình nuôi của trang trại chăn nuôi.
2 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG GÀ JA57 Giống gà ISA-JA57 do hãng Hubbard – ISA (Pháp) tạo ra, được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng. Gà bố mẹ có lông nâu nhạt, điểm trắng ở đầu cánh, mào cờ, chân mỏ và da màu vàng, thịt thơm ngon, chắc, sức đẻ cao, ít bệnh và thích ứng với các phương thức chăn nuôi. Khối lượng gà thịt lúc 10 tuần tuổi bình quân 2100, sản lượng trứng 230 quả/mái/năm đẻ.
Trứng giống có tỉ lệ phôi cao 87-95%, tỉ lệ nở 87,4%, tỉ lệ gà con loại 1 đạt 83-87%, tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 1763g, cho 10 quả trứng giống là 2070g (tổng công ty chăn nuôi Việt Nam 2000). Theo hãng Hubbard – ISA thì mức tiêu tốn thức ăn/quả trứng giống hay gà con 1 ngày tuổi giống là thấp hơn các giống gà lông màu khác từ 25-30% là chỉ tiêu ưu tiên thứ 2 để tạo giống.KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GIA CẦM Khả năng sinh sản của gia cầm đẻ trứng là khả năng sản xuất của gia cầm trong một kỳ hay cả giai đoạn đẻ. Khả năng sinh sản của gia cầm khác nhau là khác nhau và được đánh giá thông qua tỷ lệ đẻ. Quá trình hình thành trứng của gia cầm Quá trình sinh sản của gia cầm mái thể hiện thông qua việc đẻ trứng.
Trứng được thụ tinh bên trong đường sinh dục cái. Quá trình phát triển của tế bào trứng trải qua 3 thời kỳ: tăng sinh, sinh trưởng và chín. Thời kỳ tăng sinh: Trước khi bắt đầu đẻ trứng trong buồng trứng đếm được 3500 – 4000 tế bào trứng. Trong tế bào trứng có nhân to và thể nhiễm sắc.
Trong noãn hoàng có chứa nhân tế bào. Trong thời kỳ sinh trưởng, tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc biệt là lòng đỏ, được tích lũy mạnh vào giai đoạn từ 9 – 14 ngày trước khi rụng trứng. Việc 3 tăng quá trình sinh trưởng của tế bào trứng là do foliculin được chế tiết ở buồng trứng khi gà mái thành thục sinh dục. Vào cuối thời kỳ phát triển của tế bào trứng, giữa lòng đỏ chứa đầy limpho, đường kính lòng đỏ khoảng 35 – 40mm.
Màu của lòng đỏ phụ thuộc vào sắc tố trong máu, vào thức ăn, tùy theo màu lòng đỏ để xác định hàm lượng vitamin A của trứng được sử dụng để đánh giá chất lượng trứng. Trong thời kỳ chín: Trứng chín và bắt đầu diễn ra sự rụng trứng. Quá trình thoát khỏi buồng trứng của tế bào trứng chín gọi là sự rụng trứng, ở gà xảy ra một lần trong ngày, thường là sau khi gà đẻ trứng 30 phút. Ở gà đẻ sau 16 giờ, trứng thường rụng vào buổi sáng ngày hôm sau.
Quá trình hình thành và rụng trứng là một quá trình sinh lý, sinh hóa phức tạp dưới sự điều khiển của thần kinh thể dịch. Sau khi trứng rụng, tế bào trứng sẽ rơi vào ống dẫn trứng, tại đây xảy ra quá trình thụ tinh và hình thành vỏ trứng. Kích thước của ống dẫn trứng thay đổi theo lứa tuổi và tình trạng hoạt động của hệ sinh dục. Khi bắt đầu thành thục sinh dục, ống dẫn trứng là một ống trơn, thẳng có đường kính như nhau trên toàn bộ ống.
Ở gia cầm thành thục sinh dục, ống dẫn trứng có 5 phần sau: loa kèn, phần phân tiết lòng trắng trứng, phần eo của ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo. Loa kèn: Là phần đầu của ống dẫn trứng có chức năng hứng trứng. Trứng được thụ tinh ở phần loa kèn. Phần loa kèn có niêm mạc tiết ra chất có tác dụng nuôi dưỡng tinh trùng, trứng rơi vào phần loa kèn và lưu tại đây 5 – 25 phút.
Sau đó nhờ lưu động của ống dẫn trứng mà trứng được di chuyển tiếp tục xuống các phần sau của ống dẫn trứng. Phần phân tiết lòng trắng trứng: Là phần tiếp theo ngay loa kèn, phần dài nhất của toàn bộ ống dẫn trứng. Lòng trắng trứng một phần được hình thành ở đoạn này. Trứng dừng lại ở phần phân tiết lòng trắng trứng không quá 3 giờ.
4 Phần eo của ống dẫn trứng: Tiếp sau phần phân tiết lòng trắng trứng, phần eo có chức năng hình thành màng vỏ trứng và một phần lòng trắng trứng. Hình dạng của trứng được hình thành ở đây. Trứng dừng lại ở đây hơn 1 giờ. Tử cung: tiếp theo phần eo, phần này phình to, có chiều dài bằng 10% ống dẫn trứng.
Tại đây lòng trắng tiếp tục được sinh ra và thấm qua màng vỏ trứng vào trứng. Ngay khi trứng vào đến phần eo thì đầu trước của nó hình thành vỏ lụa (màng dưới vỏ trứng), sau đó vỏ cứng được hình thành dần dần (vỏ đá vôi). Màu sắc của vỏ trứng được hình thành ở đây. Thời gian trứng lưu lại ở tử cung là 20 giờ.
Âm đạo: là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng, có chức năng sinh ra lớp màng mỡ bao bọc vỏ trứng. Lớp màng mỡ này giúp cho gia cầm dễ đẻ, ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn vào trong trứng, hạn chế sự bốc hơi nước của trứng và giúp phân biệt được trứng cũ và trứng mới. Trứng được tổng hợp một phần ở buồng trứng một phần ở ống dẫn trứng. Sự hình thành trứng là một quá trình phức tạp có sự tham gia của hormone.
Tuy lòng đỏ được hình thành ở buồng trứng, nhưng hàm lượng protein lại được tổng hợp chủ yếu ở gan và thận. Mỡ của trứng được tổng hợp có nguồn gốc trực tiếp từ lipit của khẩu phần và giải phóng mỡ ở các kho dự trữ mỡ trong cơ thể. Protein và mỡ được chuyển qua máu đến buồng trứng tham gia hình thành trứng. Tuổi thành thục sinh dục Tuổi thành thục sinh dục (tuổi đẻ quả trứng đầu) là một yếu tố cấu thành năng suất.
Tuổi đẻ quả trứng đầu được xác định bằng số ngày tuổi kể từ khi gà nở đến lúc đẻ quả trứng đầu tiên (với con mái) và khả năng thụ tinh với con trống. Trong một đàn gà mái chỉ tiêu này được xác định bằng tuổi đẻ 5% số cá thể trong đàn, tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm. Theo Siegel (1962) khối lượng cơ thể và cấu trúc thành phần cơ thể là 5 những nhân tố ảnh hưởng đến tính thành thục ở gà mái. Khối lượng gà mái thành thục và khối lượng trứng gà tăng dần qua từng thời điểm đẻ 5% và đẻ đỉnh cao.
Sức sản xuất trứng của gia cầm Sản lượng trứng là lượng trứng mà gia cầm mái đẻ ra trong một vòng đời, phụ thuộc vào tuổi thành thục, cường độ đẻ trứng, tần số thể hiện bản năng đòi ấp, thời gian nghỉ đẻ và thời gian đẻ kéo dài. Theo Bandsch & Bilchel (1978), sản lượng trứng được tính trong 365 ngày kể từ khi đẻ quả trứng đầu tiên. Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trong một thời gian nhất định, cường độ này được xác định trong khoảng thời gian 30 ngày, 60 ngày, 100 ngày trong giai đoạn đẻ; đối với các giống gà chuyên trứng cao sản thường có cường độ đẻ cao nhất vào tháng đẻ thứ hai và ba, sau đó thì giảm dần; khi cường độ đẻ giảm nhiều gà thường hay biểu hiện bản năng đòi ấp (ấp bóng), bản năng khác nhau ở các giống gà khác nhau. Levie & Tailer (1943) do thời gian kéo dài đẻ trứng là yếu tố quyết định sản lượng trứng.