ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã và đang từng bước phát triển nên mức sống của người dân cũng được nâng lên. Nhu cầu thực phẩm nói chung hay thịt gà nói riêng để cung cấp ra thị trường không chỉ tăng về mặt số lượng mà bên cạnh đó chất lượng cũng được ưu tiên. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến 01/10/2016 tổng đàn gia cầm Việt Nam có 361,7 triệu con tăng 105,8% so với cùng kỳ năm 2015. Trong đó đàn gà có 277,2 triệu con; gà thịt có 213,9 triệu con (gà công nghiệp chỉ có 59,8 triệu con còn lại là gà địa phương 154,1 triệu con, chiếm 72 %) và 63,3 triệu gà đẻ trứng (gà địa phương có 38,3 triệu con chiếm đến 60,5%).
Hiện nay, các giống gà thả vườn địa phương như: Ri, Mía, Hồ, Đông Tảo.đang được nuôi có những ưu điểm nổi bật như chất lượng thịt thơm ngon, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Tuy nhiên, các giống gà này có khả năng tăng trọng, khả năng sinh sản thấp do đó hiệu quả kinh tế chăn nuôi chưa cao. Trong khi đó, các giống gà nhập nội bên cạnh những ưu điểm như khả năng sinh sản cao, tăng trọng nhanh thì khả năng chống chịu bệnh kém, chất lượng thịt không đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu cho lai tạo giữa giống gà địa phương với gà nhập nội nhằm tìm ra con giống có năng suất cao, chất lượng thịt tốt và thích nghi với điều kiện môi trường chăn nuôi ở nước ta là hết sức cần thiết.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khả năng sản xuất của công thức lai giữa gà trống Hồ với gà mái ISA - JA57 tại Công ty TNHH DABACO” 1. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI - Đánh giá khả năng sinh sản và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà mái ISA - JA57 phối với gà trống Hồ; - Đánh giá khả năng sinh trưởng, hiệu quả chuyển hóa thức ăn và năng suất thịt của gà F1(♂Hồ × ♀ISA - JA57). Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - Với phương pháp lai kinh tế, tạo thế hệ con lai có tỷ lệ nuôi sống cao, khả năng sinh trưởng tốt, chất lượng thịt đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng. - Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn bởi xuất phát từ nhu cầu thực tế mà sản xuất yêu cầu, dựa vào ưu thế lai nhằm nâng cao năng suất, chất lượng thịt, mang lại hiệu quả chăn nuôi tốt hơn.
1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ƯU THẾ LAI Theo Vũ Kính Trực (1972), thuật ngữ “Ưu thế lai” - Hotorosis được sử dụng từ năm 1914 theo đề nghị của nhà di truyền học người Mỹ Shull. Tuy nhiên, hiện tượng ưu thế lai đã được chú ý nghiên cứu cách đây khoảng 200 năm.
Với sự phát minh ra quy luật Mendell vào năm 1900, đặc biệt là do có những thành tựu đầu tiên về lý thuyết nhiễm sắc thể thì những nghiên cứu thực nghiệm đã được bắt đầu, với mục đích giải thích hiện tượng ưu thế lai dưới ánh sáng của những khái niệm mới về cơ sở vật chất của di truyền. Sau đó, vấn đề ưu thế lai đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi ở động vật và thực vật. (1978), ưu thế lai là sự tăng sức sống và tăng cường thể trọng, trong đó, các cá thể lai khác loài, khác giống thường vượt cả hai bố mẹ chúng. (1974), ưu thế lai là hiện tượng sinh học chỉ sự tăng sức sống của đời con so với bố mẹ khi có sự giao phối giữa những cá thể không thân thuộc.
Ưu thế lai không chỉ bao hàm sức chịu đựng mà còn bao hàm cả sự giảm độ tử vong, tăng tốc độ sinh trưởng, tăng sức sản xuất. Vì vậy người ta xem hiện tượng đó như một sự tăng lên về sinh lực. Ưu thế lai là hiện tượng sinh học biểu hiện ở sự phát triển mạnh mẽ có thể của những cá thể do lai tạo từ những con có nguồn gốc không cùng huyết thống. Có thể biểu hiện ưu thế lai theo nghĩa toàn cục, tức là sự phát triển toàn khối của cơ thể con vật, sự gia tăng cường độ trong quá trình trao đổi chất và sự tăng lên của các tính trạng sản xuất.
Mặt khác có thể hiểu ưu thế lai theo từng mặt, từng tính trạng một, có khi chỉ một vài tính trạng phát triển còn các tính trạng khác giữ nguyên, có tính trạng giảm đi (Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995). Theo Lê Đình Lương và Phan Cự Nhân (1994), khi lai các loài, chủng, giống hay các dòng nội phối khác nhau với nhau thì con lai F 1 thường vượt các dạng bố mẹ ban đầu về tốc độ sinh trưởng, khả năng sử dụng thức ăn, tính chống chịu với bệnh tật. Ưu thế lai làm tăng sức sống, sức chịu đựng, năng suất của đời con do giao phối không cận huyết và được nuôi trong những điều kiện khác nhau (Lebedev M. (1969), ưu thế lai là sự tăng trưởng phát triển mạnh mẽ ở đời con, tính chịu đựng và năng suất của nó cao hơn so với bố mẹ.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, ưu thế lai là một hiện tượng sinh học thể hiện trên nhiều mặt. Thế hệ lai hơn hẳn thế hệ bố mẹ về khả năng sinh sản, tốc độc sinh trưởng, khả năng sống, chất lượng thịt, khối lượng trứng, thời gian của chu kỳ đẻ trứng, sự chuyển hoá thức ăn và những đặc tính kinh tế có lợi khác, từ đó năng suất con lai được nâng lên. Tác giả Nguyễn Ân và cs. (1983) cho rằng, việc lai giữa các cá thể khác dòng, khác giống, khác chủng loại nhìn chung đã xuất hiện ưu thế lai thể hiện rất đa dạng, khó xếp loại thật rành mạch.
Nhưng điều thể hiện rõ nhất là con lai F1 có ưu thế lai cao hơn so với bất kỳ con lai nào ở các thế hệ tiếp theo là F2; F3. Dựa vào sự biểu hiện của tính trạng mà người ta thấy ưu thế lai ở động vật có thể phân tích thành các loại sau: - Con lai F1 vượt bố mẹ về khối lượng và sức sống. - Con lai F1 có khối lượng cơ thể ở mức độ trung gian giữa hai giống song khả năng sinh sản và sức sống có thể hơn hẳn bố mẹ. - Con lai F1 trội hơn bố mẹ về thể chất, sức làm việc song nó mất một phần hoặc hoàn toàn khả năng sinh sản.
- Một dạng ưu thế lai đặc biệt là từng tính trạng riêng rẽ có khả năng di truyền theo typ trung gian có khi liên quan đến sản phẩm cuối cùng thì lại khác. Một số công thức tính ưu thế lai: - Để xác định mức độ biểu hiện ưu thế lai các tác giả như: Fallconer D. (1974), Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện (1995) cho rằng ưu thế lai là sự khác biệt (hiệu) giữa giá trị tính trạng của con lai với bố mẹ và thường vượt lên trên trung bình của bố mẹ. M mẹ + M bố M con lai > 2 Trong đó: M mẹ: Bình quân giá trị tính trạng đời mẹ; M bố: Bình quân giá trị tính trạng đời bố; M con lai: Bình quân giá trị tính trạng đời con.
- Theo Đặng Vũ Bình (2002), mức độ ưu thế lai của một tính trạng năng suất được tính bằng công thức: 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. - Theo Đặng Vũ Bình (2002), nếu chỉ sử dụng năng suất của một con lai (ví dụ bố giống A lai với mẹ giống B), chúng ta đã bỏ qua ảnh hưởng ngoại cảnh của mẹ thì ưu thế lai của một tính trạng năng suất được tính theo công thức: AB – 1/2(A + B) H(%) = ----------------------------- x100 1/2(A + B) Trong đó: - H: Ưu thế lai (tính bằng giá trị %); - AB: Giá trị kiểu hình trung bình của tính trạng ở con lai bố A, mẹ B; - A: Giá trị kiểu hình trung bình của tính trạng ở giống (hoặc dòng) A; - B: Giá trị kiểu hình trung bình của tính trạng ở giống (hoặc dòng) B. Trong lịch sử ngành chăn nuôi ưu thế lai được biểu hiện rõ rệt trong việc lai lừa với ngựa tạo thành con la. Kết quả, con la được tạo ra hơn hẳn bố mẹ về nhiều mặt như: Tầm vóc, sức dẻo dai, sức thồ, sức chịu đựng (Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995).
Cho đến nay, bản chất ưu thế lai vẫn còn là một vấn đề nan giải nhất của di truyền học. Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được của di truyền học phân tử, người ta đã đưa ra nhiều giả thuyết để giải thích hiện tượng ưu thế lai (Hutt F. Theo Trần Đình Miên và Nguyễn văn Thiện(1995). cùng nhiều nhà khoa học, thì bản chất của ưu thế lai được giải thích từ hai thuyết chính là thuyết gen trội và siêu trội.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thuyết gen trội: Theo Davenport (1908), Kecble and Pelow (1910), Jones (1917) (Trích dẫn theo Kushner K., 1969), nhờ tác dụng lâu dài của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo, gen trội thường là gen có ích, dễ biểu hiện ra. Tạp giao là sự kết hợp các gen trội của hai bên bố mẹ được thể hiện ở cơ thể lai. Các gen trội thể hiện ở nhiều chỗ, có thể ức chế các gen lặn tương ứng, tạo ra tác dụng lẫn nhau, làm tăng các điểm trội lên. Các gen lặn bao giờ cũng bị che lấp (trong chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo).
Còn gen trội khi lai có tác động mạnh hơn. Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là tính trạng số lượng, các tính trạng này được nhiều gen điều khiển nên xác suất để tất cả các gen ở trạng thái đồng hợp tử là thấp. Tuy nhiên nhân giống theo dòng để tạo ra các dòng phân hoá về di truyền thì xác suất để tạo ra các chỗ gen đồng hợp tử là cao hơn. Do vậy, khi cho lai các dòng này, con lai F1 biểu hiện ưu thế lai cao vì các gen trội của cha mẹ được thể hiện ở F1.
Đó là ưu việt của con lai so với cha mẹ. Chúng có khả năng át đủ các gen bất lợi khác nhờ đó mà con lai có sức sống và sức sản xuất cao hơn cha mẹ. Ví dụ: Đời cha mẹ : AAbbccDDee AaBbccDdEE Số lô cut mang gen trội : 2 2 Đời con : AaBbccDdEe Số lô cut mang gen trội : 4 Trong trường hợp này tất cả các gen lặn (trừ c) đều bị át chế bởi alen trội.