Chương 1 Đạo Luật Nhãn hiệu, Tên thương mại Mông Cổ. 21 Điều 1 Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989. 12 nhân năm 1990, Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995. Các văn bản này mặc dù không đề cập đến thuật ngữ tên thương mại tuy nhiên việc coi trọng tên của một chủ thể hoạt động kinh doanh trên thị trường là một tiền đề quan trọng, giúp phân biệt các chủ thể kinh doanh đang hoạt động hợp pháp trên thị trường và là bước khởi đầu tiến đến việc bảo hộ tên thương mại trong các văn bản quy pháp luật SHTT của Việt Nam trong tương lai.
Ngày 03 tháng 01 năm 1996 Nghị định số 01-CP của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực thương mại ra đời, trong đó quy định hành vi cho thuê hoặc cho mượn tên thương mại của các cơ sở kinh doanh hoặc thuê, mượn, sử dụng tên thương mại của cơ sở kinh doanh khác để kinh doanh nhưng không tuân thủ theo các quy định của pháp luật là những hành vi vi phạm pháp luật và bị xử phạt theo quy định của nghị định này.22 Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên của Việt Nam sử dụng thuật ngữ tên thương mại. Tiếp đến, Luật Thương mại năm 1997 đã sử dụng một cách phổ biến thuật ngữ tên thương mại. Luật này bắt buộc một thương nhân phải có tên thương mại và đưa ra các yêu cầu nhất định đối với tên thương mại mà thương nhân cần phải đảm bảo.23 Tuy nhiên, hai văn bản quy phạm pháp luật trên chỉ sử dụng thuật ngữ tên thương mại mà không có bất kỳ một định nghĩa về tên thương mại. Cho đến khi Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp ra đời, lúc này tên thương mại mới chính thức được định nghĩa là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh, đáp ứng đầy đủ các điều kiện: thứ nhất, là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số, phát âm được, thứ hai là có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh.24 Theo quy định trên, định nghĩa tên thương mại được cấu thành từ hai yếu tố một là yếu tố về chủ sở hữu, hai là yếu tố về điều kiện của một tên thương mại được công nhận.
Theo đó, với cách quy định này, việc xác định một tên thương mại sẽ trở nên khó khăn và phức tạp bởi trong phần định nghĩa có cả điều kiện công nhận tên thương mại. 22 Điểm b, c khoản 2 Điều 9 Nghị định số 01-CP của Chính phủ ngày 03 tháng 01 năm 1996 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực thương mại. 23 Điều 24 Luật Thương mại năm 1997. 24 Điều 14 Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp.
13 Khi Luật SHTT năm 2005 của Việt Nam ra đời, quy định về các đối tượng được bảo hộ quyền SHCN trong đó có tên thương mại.25 Đây cũng là lần đầu tiên Luật đưa ra được định nghĩa cụ thể và rõ ràng về tên thương mại. Luật SHTT năm 2005 đã trải qua hai lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2009 và năm 2019, tuy nhiên khái niệm tên thương mại không có sự thay đổi và khác biệt so với quy định trước đó. Cụ thể, tên thương mại được định nghĩa như sau: “Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.”26 So với một khái niệm tên thương mại được định nghĩa trong Nghị định số 54/2000/NĐ-CP, Luật SHTT hiện hành đưa một khái niệm tên thương mại ngắn gọn hơn nhưng lại khá rõ ràng và đầy đủ. Luật SHTT hiện hành và Nghị định số 54/2000/NĐ-CP đã định nghĩa tên thương mại xuất phát từ yếu tố đầu tiên là yếu về chủ sở hữu tên thương mại, đó là tên gọi của một chủ thể dùng trong hoạt động kinh doanh nhưng điểm khác biệt lớn nhất là nếu như Nghị định sử dụng yếu tố về quy định điều kiện hợp pháp của một tên thương mại để tiến hành định nghĩa tên thương mại thì Luật SHTT đã sử chức năng của tên thương mại để tiến hành định nghĩa tên thương mại, còn yếu tố về điều kiện hợp pháp mà một tên thương mại được bảo hộ quyền SHCN được quy định trong một điều khoản khác.
Do đó, với khái niệm tên thương mại được định nghĩa trong Luật SHTT ngắn gọn, cụ thể và rõ ràng hơn so với quy định trước đây. Hiện nay, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT so với quy định của Luật SHTT hiện hành, khái niệm tên thương mại cũng không có sự sửa đổi, bổ sung. Với định nghĩa cho khái niệm tên thương mại theo pháp luật SHTT, tên thương mại sẽ có những đặc trưng sau: Thứ nhất, tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh của chủ thể kinh doanh luôn gắn liền với tên gọi của chủ thể kinh doanh đó, bởi vì trong một lĩnh vực, khu vực kinh doanh có rất nhiều chủ thể kinh doanh khác nhau hoạt động, nên tên gọi được dùng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh là một yếu tố quan trọng để tạo nên sự phân biệt giữa những chủ thể kinh doanh khác nhau.27 Theo đó “hoạt động kinh doanh được hiểu là hành vi của tổ chức, cá nhân thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình 25 Điều 3 Luật SHTT năm 2005.
26 Khoản 21 Điều 4 Luật SHTT. 27 Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ (tái bản có sửa chữa, bổ sung), NXB Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh, tr.
14 đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Hoạt động kinh doanh phải được thực hiện theo đúng ngành, nghề đã ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; bảo đảm điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật khi kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.”28 Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng quy định: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.”29 Do đó, điều đầu tiên có thể nhận thấy rằng sự tồn tại của một tên thương mại phải gắn liền với sự tồn tại của một cá nhân, tổ chức. Thứ hai, cá nhân, tổ chức có tên thương mại phải thực hiện hoạt động kinh doanh hợp pháp, lúc này tên thương mại mới có ý nghĩa về mặt pháp lý. Do đó, để được xác lập quyền SHCN, tên thương mại của một cá nhân tổ chức phải được sử dụng trong hoạt động kinh doanh hợp pháp.
Việc tham gia cũng như quy trình tham gia và hoạt động kinh doanh được Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định. Sau khi chính thức tham gia vào hoạt động kinh doanh, chủ thể kinh doanh sẽ giao tiếp với khách hàng và với những chủ thể khác bằng danh xưng đó chính là tên thương mại. Thứ hai, đặc trưng về chức năng của một tên thương mại. Tên thương mại có chức năng giúp phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.
Sự phân biệt của một tên thương mại không phải được đề cập đến ở một không gian chung chung, không cụ thể và thiếu xác định mà sự phân biệt này được đặt ra đối với các chủ thể kinh doanh đang hoạt động trong cùng một lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Bởi ở một góc độ khác, “tên thương mại bao gồm bất kì tên gọi được sử dụng để nhận biết hay chỉ rõ một hoạt động kinh doanh, nghề nghiệp hay quyền đối với tên gọi của một cá nhân, tổ chức tham gia và hoạt động kinh doanh, nghề nghiệp trong một phạm vi kinh doanh nhất định như lĩnh vực kinh doanh và lãnh thổ kinh doanh.”30 Bản chất của kinh doanh là sự cạnh tranh giữa các chủ thể một cách hết sự khốc liệt. Sự cạnh tranh đến từ nhiều yếu tố từ chất lượng hàng hóa, giá cả hàng hóa, khách hàng. giữa các chủ thể có cùng khu vực và lĩnh vực kinh doanh.
Do đó, tên thương mại góp phần tạo lập được danh tiếng của chủ thể kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh của chủ thể kinh doanh, tạo nên sự phân biệt nhất định giữa các chủ thể kinh doanh khác nhau trong cùng một lĩnh vực và khu 28 Hoàng Minh Thùy, tlđd (18), tr. 29 Khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020. 30 Xuan Thao Nguyen và Jeffrey A.Maine (2007), Taxing Trademarks and Domain Names, Intellectual Anh Information Wealth, Volume Three, NXB Praeger, tr. 15 vực kinh doanh.
Sự phân biệt này là cần thiết phải được đặt ra bởi trong cùng một khu vực và lĩnh vực kinh doanh luôn tồn tại sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể kinh doanh với các yếu tố cần phân biệt như: phân biệt về hàng hóa, dịch vụ, hoạt động, cơ sở kinh doanh. Thông qua những yếu tố này, để cá thể hóa chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác.31 Theo đó, Luật SHTT hiện hành quy định khu vực kinh doanh là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng.32 Đồng thời, trong khái niệm tên thương mại còn có một cụm từ là lĩnh vực kinh doanh nhưng chưa có sự giải thích cho thuật ngữ này. Tuy nhiên, xuất phát từ chức năng phân biệt của một tên thương mại có thể hiểu lĩnh vực kinh doanh là “tổng thể nội dung ngành nghề kinh doanh mà một doanh nghiệp tiến hành đầu tư, hoạt động theo quy định pháp luật và được thể hiện trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, đăng ký mã số thuế, điều lệ công ty đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền hoặc các giấy tờ có giá trị pháp lý khác”.