Chương 1: Cơ Sở Lý Luận Về Hanh Vi Gian Lan Báo Cáo Tài Chính Chương 2: Thực Trạng Gian Lận Báo Cáo Tài Chính Của Các Công Ty Bất Động Sản Niêm Yết Trên TTCK Việt Nam Chương 3: Kết Quả Nghiên Cứu Về Nhận Diện Khả Năng Gian Lận BCTC Của Các Công Ty Bất Động Sản Niêm Yết Trên TTCK Việt Nam Chương 4: Kiến Nghị Và Giải Pháp 12 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HANH VI GIAN LAN BAO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu nước ngoài - - Nghiên cứu của Giáo sư Beneish (năm 1999), là nghiên cứu tiên phong về xây dựng mô hình kha năng gian lận BCTC. Beneish đã thiết lập mô hình M-score dé đánh giá có hay không khả năng gian lận của công ty trong BCTC. Mô hình sử dung 8 biến và phân chia rõ thành 2 nhóm. Nhóm 1 gồm các biến số giúp nhận diện gian lận: DSRI (Days Sales Receivable Index): Chỉ số phải thu khách hàng so với doanh thu; AQI (Asset Quality Index): Chỉ số chất lượng tài sản; DEPI (Depreciation Index): Chỉ số tỷ lệ khấu hao; và TATA (Total Accrual on Total Assets): Chỉ số biến dồn tích so với tổng tài sản.
Nhóm 2 gồm các biến số giúp phản ánh động cơ gian lận: GMI (Gross Margin Index): Chỉ số tỷ lệ lãi gộp, SGI (Sales Growth Index): Chỉ số tăng trưởng doanh thu bán hàng, SGAI (Sales, General and Administration Expense Index): Chỉ số chi phí bán hàng va quản lý doanh nghiệp và LVGI (Leverage Index): Chỉ số đòn bẩy tài chính. Mô hình của Beneish được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới khi nó có thể giúp cho các KTV nhận diện được một công ty có khả năng gian lận với xác suất dự đoán lên đến 76%. Đây cũng là mô hình giúp cho sinh viên trường Dai học Cornell phát hiện gian lận của Tập đoàn Enron trước 1 năm thời điểm vụ bê bối của công ty được phát hiện. - Beasley và các cộng sự (2001) phân tích các yêu tô ảnh hưởng đến hoạt động gian lận BCTC của công ty; nghiên cứu của DeAngelo (1986) sử dụng kỹ thuật dồn tích, nghiên cứu nay tập trung đánh giá các khoản mục kế toán dồn tích dé phát hiện gian lận; Fanning & Gogger (1998) sử dụng mô hình mang thần kinh nhân tạo để phát hiện gian lận quản trị, họ tìm ra mô hình gồm 8 biến số có khả năng phát hiện gian lận cao; Hansen (1996) sử dụng mô hình phản hồi chất lượng tong thé dé dự đoán việc bóp méo tài chính dựa trên dit liệu của các công ty kế toán được niêm yết toàn cầu.
Bên cạnh việc nhận diện thuộc tính của các công ty có gian lận BCTC, các tác giả tập trung làm rõ chức năng, vai trò và hiệu lực của các nhân tố; thù lao và động cơ của các cá nhân có liên quan, quản trị công ty, kiểm soát, văn hoá, đạo đức. - Bàn về gian lận không thé không nhắc tới lý thuyết tam giác gian lận của Cressey (1953). Đây là công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc gian lận. Ông cho rằng gian lận chỉ phát sinh khi hội tụ đủ 3 yếu tố là ap lực, cơ hội va thai độ.
Day là một trong những lý thuyết tiên phong trình bày chỉ tiết về các nhân tô dẫn đến hành vi gian lận. Trong Báo cáo về chuẩn mực kiểm toán (Statement on Auditing Standards-SAS.No99 - 2002) của Hội 13 kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (American Institute of Certified Public Accountants- AICPA) đã áp dụng lý thuyết tam giác gian lận của Cressey dé đưa ra ví dụ về các yếu tố rủi ro gian lận liên quan đên sai sót trong báo cáo tài chính Trong bài nghiên cứu của về các yếu tố rủi ro liên quan và dự đoán gian lận BCTC Skousen & Wright (2006) nghiên cứu rõ và phân tích hơn về các nhân tố này (Áp lực, Cơ hội, Thái độ). Tác giả dựa trên những ví dụ về nhân tổ rủi ro gian lận được trích dẫn trong SAS.No99 và những nghiên cứu trước liên quan dé phát triển thành những biến đại diện có thé do lường được mức độ của từng yếu tô như: Tốc độ tăng trưởng nhanh của tài sản, sự tăng lên của nhu cầu tiền mặt và nhu cầu huy động vốn từ bên ngoài, việc năm giữ cô phiếu của cô đông bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, đặc điểm của hội đồng quản trị, số lượng thành viên độc lập trong ủy ban kiểm toán. Điều đó thể hiện được mối quan hệ ý nghĩa giữa các yếu tô của tam giác gian lận và khả năng phát hiện gian lận BCTC.
Trong nghiên cứu về việc “Tỷ số tài chính có thể giải thích được khả năng xảy ra gian lận báo cáo tài chính không?” của Dani (Malaysia - 2013): tác giả đã sử dụng 11 tỷ số tài chính và tiễn hành trên BCTC 122 công ty Malaysia trong giai đoạn từ 2003 - 2010. Những ty số này bao gồm các tỷ số cô điển của Beneish (1991) và control for distress factor sử dung mô hình Z-score của Altman (1968). Kết qua của nghiên cứu cho rang tất cả các ty số này đều có mối liên hệ ý nghĩa với việc gian lận BCTC trừ tỷ số Lợi nhuận gộp/ tài sản. Tỷ lệ hàng tồn kho/tông tài sản, Tỷ suất lợi nhuận gộp và chỉ số Z-Score.
Tại các nước đang phát triển cũng có rất nhiễu nghiên cứu được tiến hành như Iran, Malaysia. Nia (lran - 2015), tác giả sử dụng các tỷ số tài chính dé so sánh sự chênh lệch giữa công ty gian lận và công ty không gian lận, nghiên cứu này được kiểm nghiệm trong 134 công ty trên TTCK Tehran từ năm 2009-2014. Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng kiểm định T-test mẫu độc lập trong quá trình kiểm nghiệm. Kết quả cho thấy sự khác nhau đáng ké giữa các tỷ số Tài sản ngắn han/Téng tài sản, Hàng tồn kho/Téng tài sản, Doanh thu/Tài sản.
Nói lên răng quản lý của công ty gian lận trong việc sử dụng tài sản để tạo ra doanh thu kém hiệu quả hơn so với công ty không gian lận.2 Nghiên cứu trong nước. Trong bài nghiên cứu của Tiến sĩ Đỗ Kiều Oanh (2016) “Nghiên cứu các nhân tô ảnh hưởng đến gian lận Báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam": Tác giả ứng dụng hàm mô hình nghiên cứu điển hình của Charalambos T. Spathis (2002) đã nghiên cứu về 10 chỉ số tài chính tương ứng với 10 biến được lựa chọn, để thiết lập mô hình dự 14 đoán khả năng gian lận trong BCTC. Nghiên cứu sử dụng mô hình phân tích hồi quy logistic của 163 Công ty BĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam thuộc 3 nhóm ngành liên quan đến BĐS: Bất động sản, Xây dựng và Vật liệu xây dựng năm 2013.
Kết quả nghiên cứu cho thấy một số chỉ số tài chính có nguy cơ xảy ra gian lận cao: tỷ số thanh toán hiện thời, vòng quay tài sản cố định, vòng quay tổng tài sản, tỷ số nợ với xác suất dự báo đúng 95,97% giúp cho các ngân hàng, nhà đầu tư, kiểm toán viên.dự báo gian lận xảy ra trên BCTC của nhóm các công ty Bât động sản. “Nghiên cứu về sai sót trong BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam” Th.S Nguyễn Tran Nguyên Trân (2014): tác giả đã tong hợp thực trạng về sai sót trong BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK và áp dụng mô hình M-score của Beneish đề phát hiện ra những sai sót. Dựa vào số liệu thu thập được, áp dụng mô hình của Beneish thông qua các chỉ số với 30 công ty được chọn thì tỷ lệ phát hiện là 53,33% (tức trong 16/30 công ty bị phát hiện gian lận). Do đó, mô hình của Beneish đã được sử dụng như công cụ hỗ trợ cho kiểm toán đánh giá rủi ro gian lận BCTC.
“ Vận dụng mô hình của DeAngelo và Friedlan dé nhận dạng hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị” Nguyễn Thi Minh Trang (2012): Nghiên cứu nhận dang được hành động gian lận BCTC của 4 loại hình doanh nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, Doanh nghiệp Tư nhân, Công ty Cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hầu hết các loại hình doanh nghiệp đều có gian lận BCTC. “Phát hiện sai phạm BCTC của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết" của Hoàng Khánh & Tran Thị Thu Hiển (2015): Tác giả đã xác định khả năng sai phạm BCTC của các công ty niêm yết trong ngành xây dựng bằng cách ứng dựng mô hình nghiên cứu của DeAngelo (1986), Friedlan (1994) và Beneish (1999). 3 mô hình này kết hợp với nhau dé cho ra được 2 mô hình nghiên cứu định lượng với các tỷ số về tăng trưởng doanh thu, tỷ số chất lượng tài sản, tỷ số khấu hao tài sản có định, yếu tố biến dồn tích có thé điều chỉnh.
Và đưa ra được kết quả với độ chính xác lần lượt là: 63,41% và 68,29%. Tiến sĩ Vũ Thị Thục Oanh (2018) với luận án "Cac nhân tổ tác động đến hành vi gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" cũng đã sử dung mô hình nghiên cứu trên 3 nhân tố cơ bản của Cressey dé phát triển thành các nhân tố cụ thé trong luận án Tiến sĩ của mình, cụ thể: Nhóm áp lực (3 nhân tố), nhóm cơ hội (8 nhân tố), nhóm thái độ (4 nhân tố) cùng với 51 tiêu chí đo lường. Sau quá trình nghiên cứu 15 thu được kết quả rằng trong tổng số biến thì có 12 biến có ý nghĩa thống kê tác động đến hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Có 8 biến độc lập có quan hệ thuận chiều với biến phụ thuộc, 15 nhân tố sau khi kiểm định có tác động đến hành vi gian lận BCTC, 12 trên 15 nhân tố tác động và 3 ngân tô không tác động đến hành vi gian lận BCTC của các CTNY.
Có 8 nhân tố ảnh hưởng thuận chiều và 4 nhân số ảnh hưởng ngược chiều đến hàng vi gian lận BCTC. Nghiên cứu của TS.Vũ Thị Thục Oanh đã làm rõ các nhân tổ ảnh hưởng trên TTCK Việt Nam, khắc phục được sự hạn chế về cơ sở lý thuyết, về quy mô biến và về phương pháp nghiên cứu trước đây đã sử dụng dé có đóng góp hiệu qua nhất trên TTCK Việt Nam.3 Khoảng trống nghiên cứu Qua nghiên cứu về các công trình và luận án của tác giả trong và ngoài nước về gian lận báo cáo tài chính, tác giả rút ra kết luận: Các nghiên cứu trước chưa đi sâu vào việc quan sát sự biến động của các chỉ số tài chính trong các năm trước năm phát hiện gian lận BCTC.