Phần mở đầu. Chương 2: Tổng quan các lý thuyết nền và các nghiên cứu về dự đoán gian lận trên báo cáo tài chính. Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm về việc áp dụng mô hình F-score để dự đoán gian lận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 6 TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Các nghiên cứu nhằm phát hiện sớm và đầy đủ gian lận trên BCTC là đề tài thu hút sự quan tâm không chỉ đối với nhà đầu tư mà cả các kế toán, kiểm toán viên. Đề tài nghiên cứu này cũng được nhiều tác giả thực hiện với nhiều phương pháp khác nhau cũng như cách tiếp cận khác nhau. Nghiên cứu này của tác giả sử dụng kết quả từ nghiên cứu trước của tác giả Dechow và các cộng sự vào năm 2011, để xây dựng mô hình thực nghiệm áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Ngoài ra, nghiên cứ này sẽ kiểm định lại kết quả hồi quy thông qua việc sử dụng bộ dữ liệu BCTC cho giai đoạn từ năm 2015 đến 2017 được thu thập từ các CTNY trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). Sau đó sẽ đưa ra các thay đổi cho phù hợp với mô hình để nâng cao tính dự đoán tại thị trường Việt Nam. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm về sai sót 1, gian lận Định nghĩa về sai sót Khái niệm sai sót được sử dụng trong luận văn là thuật ngữ được định nghĩa theo Chuẩn mực kiểm toán số 240 (VSA 240) Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán BCTC (Ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính). Theo đó “sai sót trong BCTC có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn.
Để phân biệt giữa gian lận và nhầm lẫn, cần phải xem xét xem hành vi dẫn đến sai sót trong BCTC là cố ý hay không cố ý.” Vậy nếu sai sót xảy ra do hành vi không cố ý thì được gọi là nhầm lẫn và ngược lại nếu sai sót xảy ra do hành vi cố ý thì sẽ được gọi là gian lận. Đối với kiểm toán viên thì hành vi gian lận trên BCTC mang tính chất nghiêm trọng hơn và kiểm toán viên cần phải xây dựng các thủ tục kiểm toán thích hợp để ngăn ngừa và phát hiện gian lận trên BCTC. Gian lận cũng sẽ là nội dung được nhấn mạnh trong luận văn vì các tài liệu đều tập trung đánh giá các thủ thuật gian lận và phương pháp phát hiện gian lận. Định nghĩa về nhầm lẫm Theo VSA 240: Nhầm lẫn là các hành vi không cố ý và gây ảnh hưởng đến thông tin trên BCTC.
Nhầm lẫn có thể xảy ra trong tất cả các giai đoạn trong quá trình lập BCTC như thu thập, xử lý dữ liệu hoặc trình bày thông tin. Một số ví dụ cụ thể như: Lỗi về ghi chép sai hoặc tính toán số học bị sai. Bỏ sót hoặc hiểu sai dẫn đến làm sai lệch các nghiệp vụ kinh tế và các khoản mục. 1 Thuật ngữ được sử dụng trong bài nghiên cứu của Dechow và các cộng sự (2011) là misstatement, tạm dịch là sai lệch.
Sai lệch này bao gồm gian lận (fraud) và sai sót (error) 8 Áp dụng sai các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ, phương pháp kế toán và chính sách tài chính nhưng do không cố ý. Định nghĩa về gian lận Theo từ điển tiếng Việt, gian lận là hành vi thiếu trung thực, dối trá, mánh khoé nhằm lừa gạt người khác. Theo một nghĩa rộng hơn gian lận là việc xuyên tạc sự thật, thực hiện các hành vi không hợp pháp nhằm lường gạt, dối trá để thu được một lợi ích nào đó. Ba biểu hiện thường thấy của gian lận là: chiếm đoạt, lừa đảo và ăn cắp.
Theo Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Mỹ (The Association of Certified Fraud Examiners - ACFE) gian lận là: hành vi cố ý thu lợi bằng việc lừa đảo, lừa dối hoặc các hành vi bất chính khác. Theo Cục điều tra Liên Bang Mỹ (FBI) định nghĩa về gian lận là: những hành vi lừa dối, che giấu hoặc lợi dụng lòng tin, mà động cơ của những hành vi này xuất phát từ tài chính, nhằm thu lợi hoặc tránh mất tiền, tài sản để đảm bảo thu được lợi ích cho cá nhân hay tổ chức. Theo cơ quan chống gian lận của Anh (SFO) định nghĩa gian lận như là một sự lạm quyền, một sự đại diện bất hợp pháp hoặc hành động làm thiệt hại đến một ai đó để đạt được lợi ích cá nhân. Khái niệm “gian lận” được định nghĩa trong nhiều từ điển và nhiều tổ chức khác nhau.
Tuy nhiên, tổng kết lại, có thể định nghĩa gian lận là hành động có chủ ý, trái với pháp luật nhằm lừa gạt một cá nhân, tổ chức để đạt được một lợi ích nào đó.2 Khái niệm về hành vi gian lận trong BCTC Khái niệm gian lận trong báo cáo tài chính của Ủy ban Chứng khoán và Thị trƣờng Chứng khoán Mỹ (Securities and Exchange Commission) Ủy ban Chứng khoán và Thị trường Chứng khoán Mỹ (Securities and Exchange Commission) định nghĩa về gian lận là “việc sử dụng các thủ thuật khác nhau nhằm bóp méo báo cáo tài chính để đạt được mục tiêu kỳ vọng”. Hầu hết các 9 gian lận đều có mục đích “Quản trị lợi nhuận”1 cho doanh nghiệp nhưng không phải kỹ thuật “Quản trị lợi nhuận” nào cũng là gian lận. Các kỹ thuật quản trị lợi nhuận thường vẫn được chấp nhận và thường được đề cập đến với thuật ngữ “vùng xám”. Các kỹ thuật này không vi phạm pháp luật nhưng thường làm mất đi tính khách quan của báo cáo tài chính do ra đời nhằm phục vụ lợi ích của một nhóm người chứ không phải là công chúng và phần lớn người sử dụng báo cáo tài chính.
Các kỹ thuật quản trị lợi nhuận thường bao gồm: Thay đổi phương pháp tính khấu hao từ khấu hao nhanh sang khấu hao đường thẳng nhằm giảm chi phí khấu hao và tăng lợi nhuận (hoặc ngược lại cho mục đích tăng khấu hao và giảm lợi nhuận); Thay đổi thời gian sử dụng hữu ích hoặc giá trị thanh lý ước tính nhằm thay đổi khấu hao từ đó thay đổi lợi nhuận; Lập dự phòng chưa phù hợp với bản chất về khả năng thu hồi của các khoản phải thu từ đó ảnh hưởng đến chi phí nợ xấu và lợi nhuận; Thay đổi các phương pháp tính giá của Hàng tồn kho (Nhập trước xuất trước, giá trung bình, giá đích danh) từ đó thay đổi giá vốn hàng bán và ảnh hưởng đến lợi nhuận. Khi người lập báo cáo tài chính lạm dụng quá đà các kỹ thuật quản trị lợi nhuận bằng việc thay đổi các chính sách kế toán mà không giải thích được các kỹ thuật đó giúp cho báo cáo tài chính trung thực và hợp lý hơn thì những hành động này sẽ được coi như một hình thức gian lận trên báo cáo tài chính. Trong thực tế việc xác định được các “kỹ thuật quản trị lợi nhuận” có bị lạm dụng hay không là rất khó khăn do các doanh nghiệp thường viện cớ rằng họ xử lý theo nhu cầu của thị trường hoặc cổ đông mặc dù việc xử lý này có thể sẽ làm giảm đi tính minh bạch của các thông tin tài chính. 1 Quản trị lợi nhuận là hành động điều chỉnh lợi nhuận kế toán của nhà quản trị DN nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán.
10 Khái niệm gian lận trong BCTC của Hiệp hội Kiểm toán nội bộ (IIA) Gian lận là các hành vi bất hợp pháp nhằm lừa gạt, che dấu hoặc lợi dụng sự tín nhiệm. Những hành vi này không phụ thuộc vào việc bị đe doạ hay bị áp lực về vật chất. Gian lận được thực hiện bởi một đối tượng nào đó để thu lợi về tiền, tài sản hay để đảm bảo lợi ích cá nhân hoặc lợi thế kinh doanh. Khái niệm gian lận trong kiểm toán BCTC của chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA) Theo ISA 240, gian lận liên quan đến BCTC là các hành vi có chủ ý lam thay đổi hoặc giả mạo chứng từ kế toán; ghi chép sai, không trình bày hay cố ý bỏ sót các thông tin quan trọng trên BCTC; cố ý không áp dụng, không tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán, Chuẩn mực kế toán; giấu diếm hay bỏ sót không ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc ghi chép các nghiệp vụ không xảy ra.
Khái niệm gian lận trong kiểm toán BCTC theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 thì gian lận là các hành vi cố ý gây ra các sai sót mang tính trọng yếu đến BCTC. Gian lận là hành vi cố ý do một hoặc nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp. Các biểu hiện phổ biến như sau: Làm giả hoặc sửa đổi hồ sơ, chứng từ, tài liệu kế toán dẫn đến thay đổi nội dung các nghiệp vụ kinh tế phát sinh do đó làm ảnh hưởng đến thông tin trình bày trên BCTC. Cố ý gây ra sai sót hoặc trình bày sai có chủ đích đối với các thông tin, sự kiện, và các giao dịch được trình bày trên BCTC.
Cố ý áp dụng sai các chuẩn mực kế toán có liên quan đến số lượng, phân loại các nội dung trình bày và công bố về các chỉ tiêu và khoản mục trên BCTC. Nhìn chung, gian lận trên BCTC là các hành vi mang tính cố ý tạo ra các sai lệch về thông tin được trình bày trên BCTC. Gian lận có thể mang lại lợi ích cho cá 11 nhân hay cho tổ chức. Khi cá nhân thực hiện gian lận, lợi ích có thể là trực tiếp (như nhận tiền hay tài sản), hay gián tiếp (có ảnh hưởng nào đó, tăng quyền lực, sự đền ơn, tiền thưởng…).
Khi tổ chức (thường là nhân viên hành động trên tư cách tổ chức) thực hiện gian lận thì lợi ích thu được thường là trực tiếp dưới hình thức thu nhập của công ty tăng lên, giảm thuế, đồng nhất báo cáo với dự đoán của các nhà phân tích, đạt được các hợp đồng vay nợ… 2.3 Phân loại các hành vi gian lận 2.