Nghiên cứu: Kết quả phẫu thuật gãy Dupuytren tại Bệnh viện T.Ư Thái Nguyên

Tổng hợp kết quả phẫu thuật điều trị gãy kín Dupuytren ở người lớn. Nghiên cứu thực tế tại Bệnh viện TƯ Thái Nguyên về phương pháp và hiệu quả.

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Bác sĩ Nội trú

2022

108
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm gãy kín Dupuytren

Gãy kín Dupuytren là một chấn thương phức tạp ở vùng cổ chân liên quan đến tổn thương đồng thời của xương mác, mắt cá trongmắt cá sau. Đây là một trong những loại gãy cổ chân nặng nhất, thường xảy ra do cơ chế sấp và xoay ngoài. Các tổn thương có thể kèm theo như tổn thương dây chằng, mô mềm và thậm chí các chấn thương kết hợp khác. Nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên cho thấy tỉ lệ gãy Dupuytren ở người lớn chiếm một tỷ lệ đáng kể trong các trường hợp gãy cổ chân. Việc nhận diện sớm các tổn thương giải phẫu thông qua khám lâm sàng và hình ảnh Xquang là rất quan trọng để lập kế hoạch điều trị phù hợp.

1.1. Cơ chế chấn thương và tổn thương mô

Cơ chế chấn thương trong gãy kín Dupuytren thường liên quan đến sấp và xoay ngoài hoặc ngửa khép. Các cơ chế này gây ra tổn thương đồng thời trên ba vị trí: xương mác ngoài, mắt cá trongmắt cá sau. Tổn thương dây chằng chày mác cũng thường xảy ra, làm ảnh hưởng đến sự ổn định của khớp. Ngoài ra, tổn thương mô mềm bao gồm cơ, dây chằng và các mô xung quanh cũng cần được đánh giá kỹ lưỡng trong quá trình khám lâm sàng.

1.2. Phân loại theo tiêu chuẩn Danis Weber

Hệ thống phân loại Danis - Weber được sử dụng rộng rãi để phân loại gãy cổ chân, bao gồm gãy kín Dupuytren. Phân loại này dựa trên vị trí của gãy xương mác so với khớp chày mác dưới. Loại A, B và C có các đặc điểm và tiên lượng khác nhau. Việc phân loại chính xác giúp xác định mức độ nặng của tổn thương và hướng dẫn lựa chọn phương pháp điều trị, đặc biệt là phương pháp kết hợp xương phù hợp nhất.

II. Phương pháp chẩn đoán và đánh giá tổn thương

Chẩn đoán gãy kín Dupuytren yêu cầu sự kết hợp giữa khám lâm sàng kỹ lưỡng và hình ảnh chẩn đoán hiện đại. Các triệu chứng lâm sàng bao gồm đau, sưng, biến dạng ở vùng cổ chân và bàn chân. Xquang là phương pháp đầu tiên để phát hiện và phân loại gãy xương. Khi cần đánh giá chi tiết hơn về tổn thương mô mềmkhớp, CLVT (Cắt lớp vi tính) hoặc MRI có thể được sử dụng. Việc đánh giá khoảng sáng chày mác (TFCS) và độ chồng chày mác (TFO) là rất quan trọng để xác định sự ổn định của khớp.

2.1. Khám lâm sàng và đánh giá ban đầu

Khám lâm sàng cần đánh giá mức độ sưng, đau tại các vị trí mắt cá ngoài (MCN), mắt cá trong (MCT)mắt cá sau (MCS). Cần kiểm tra cảm giác, mạch máumàu sắc da để loại trừ chấn thương blood vessel nặng. Thăm dò cơ bắp và mô mềm xung quanh giúp phát hiện tổn thương cơ chân đi kèm. Đánh giá khả năng vận động khớp cũng rất quan trọng cho việc lập kế hoạch tái phục hồi chức năng sau phẫu thuật.

2.2. Hình ảnh chẩn đoán và phân loại gãy

Xquang tiêu chuẩn bao gồm các tư thế AP, lateral, và mortise để đánh giá vị trí gãy xươngalignment của khớp. CLVT cung cấp thông tin chi tiết hơn về gãy phức tạptổn thương liên khớp. Dựa vào hình ảnh gãy, áp dụng hệ thống phân loại Danis - Weber để xác định loại gãy và tiên lượng điều trị. Các chỉ số như TFCSTFO được đo lường để đánh giá sự ổn định khớp chày mác dưới.

III. Kỹ thuật phẫu thuật điều trị và kết hợp xương

Phẫu thuật là phương pháp tiêu chuẩn vàng trong điều trị gãy kín Dupuytren ở người lớn. Kết hợp xương thường được thực hiện bằng dây chằng nội mặt, vid xoắn, hoặc các hệ thống cố định hiện đại khác. Đường mổ sau trong thường được sử dụng để tiếp cận gãy mắt cá sau và phục hồi dây chằng chày mác sau dưới. Việc cố định xương mác ngoài có thể thực hiện qua đường mổ riêng hoặc đường mổ trước. Phương pháp chống trượt được áp dụng để đảm bảo sự ổn định của khớp chày mác dưới. Thời gian từ chấn thương đến phẫu thuật ảnh hưởng đến kết quả điều trịbiến chứng vết mổ.

3.1. Các phương pháp kết hợp xương và cố định

Kết hợp xương trong gãy mắt cá trong thường sử dụng dây chằng nội mặt hoặc vid xoắn. Gãy mắt cá sau có thể được cố định bằng dây chằng, vidxoắn, hoặc các hệ thống cố định khác tùy theo kích thước và vị trí gãy. Cố định khớp chày mác dưới đôi khi cần thiết để duy trì sự ổn định. Lựa chọn phương pháp cố định phụ thuộc vào loại gãy, chất lượng xương của bệnh nhân, và kinh nghiệm của phẫu thuật viên.

3.2. Kỹ thuật mổ và đường vào tiếp cận

Đường mổ sau trong là lựa chọn chính để tiếp cận gãy mắt cá sau và phục hồi dây chằng chày mác. Đường rạch da bộc lộ ổ gãy mắt cá trong và xương mác được thực hiện thông qua đường mổ trước ngoài hoặc trước. Mỗi đường mổ có những ưu, nhược điểm riêng về tiếp cận, tổn thương mô mềmbiến chứng. Kỹ thuật chống trượt giúp ngăn chặn chuyển vị mắt cá trong quá trình tái phục hồi xương.

IV. Kết quả điều trị và yếu tố ảnh hưởng tới kết quả

Nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đã đánh giá kết quả xa của phẫu thuật điều trị gãy kín Dupuytren ở người lớn. Kết quả Xquang cho thấy tỉ lệ kết hợp xương tốt/rất tốt đạt được ở đa số bệnh nhân. Triệu chứng đau giảm đáng kể sau phẫu thuật, tuy nhiên có bộ phận bệnh nhân vẫn còn triệu chứng đau kéo dài. Khả năng đi lại được cải thiện, nhiều bệnh nhân không cần dụng cụ hỗ trợ sau thời gian tái phục hồi. Biến chứng vết mổ bao gồm nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM)hở lại vết mổ được quan sát ở tỉ lệ nhất định. Các yếu tố như tuổi, bệnh đái tháo đường, thời gian phẫu thuật ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

4.1. Kết quả xa theo đánh giá hình ảnh và lâm sàng

Kết quả Xquang được đánh giá dựa trên vị trí gãy, alignment khớpmức độ kết hợp xương. Hầu hết bệnh nhân đạt được kết hợp xương tốt sau 3-6 tháng. Triệu chứng đau được cải thiện so với trước phẫu thuật, nhưng mức độ đau khác nhau tùy theo bệnh nhân và tổn thương kèm theo. Chức năng cõng được phục hồi từng bước thông qua vật lý trị liệutái phục hồi. Hạn chế vận động khớp có thể xảy ra ở một số trường hợp gãy phức tạp hoặc biến chứng vết mổ.

4.2. Yếu tố liên quan và biến chứng sau phẫu thuật

Tuổi của bệnh nhân là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tái phục hồi xương. Bệnh nhân có bệnh đái tháo đường thường có kết quả điều trị kém hơn do ảnh hưởng đến chữa lành xương. Thời gian từ chấn thương đến phẫu thuật ảnh hưởng đến mức độ sưng mô mềmbiến chứng vết mổ. Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM)biến chứng phổ biến cần được theo dõi và điều trị sớm. Hở lại vết mổ, viêm xương có thể xảy ra ở các trường hợp nặng hoặc có biến chứng.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Sơ lược giải phẫu vùng cổ chân Khớp cổ chân là khớp liên kết giữa đầu dưới 2 xương cẳng chân với xương sên. Khớp bao gồm các thành phần sau: 1. Hệ thống xương 1.

Đầu dưới xương chày Có hình khối vuông 5 mặt [6]: - Mặt dưới: Tiếp khớp với diện ròng rọc xương sên, có gờ phía trước và phía sau để không cho xương sên ra trước và ra sau. Gờ sau xuống thấp hơn gờ trước hay còn gọi là mắt cá sau, mắt cá thứ ba của Destot. - Mặt trong: Có phần xuống thấp hơn mặt dưới gọi là mắt cá trong, mặt ngoài mắt cá trong tiếp khớp với mặt trong xương sên, có rãnh sau mắt cá trong để cho gân cơ chày sau, cơ gấp chung các ngón chạy qua. - Mặt ngoài: Có khuyết mác, khớp với đầu dưới xương mác.

- Mặt trước và mặt sau: Lồi và tròn. Phần dưới xương mác Xương mác nằm phía ngoài cẳng chân, ở 1/3 dưới trên mỏm mắt cá ngoài từ 6 - 8 cm, xương mác xoắn từ sau vào trong, đây là điểm yếu dễ bị gãy. Đầu dưới xương mác hình tam giác, xuống thấp hơn mắt cá trong 1cm. Đứng thẳng như một cột trụ kìm hãm xương sên không cho trật ra ngoài.

- Mặt trong: Phía trên khớp với khuyết mác đầu dưới xương chày tạo nên khớp sợi chày mác (Syndesmosis). - Phía dưới tiếp khớp với mặt ngoài ròng rọc sên. - Phía sau có rãnh cho cơ mác dài và mác ngắn chạy qua. Đầu dưới hai xương cẳng chân *Nguồn: Theo Frank H.

Xương sên Xương gồm 3 phần: Chỏm sên, cổ sên và thân xương sên. Vị trí nằm giữa các xương: Phía trên là xương chày, phía dưới là xương gót, hai mặt bên khớp với hai mắt cá tương ứng. Hơn 60% diện tích bề mặt của xương được bao phủ bởi sụn khớp, phần cổ không có sụn bao phủ là nơi để các mạch máu đến nuôi dưỡng và dây chằng, bao khớp bám vào. Bề mặt sụn khớp có cấu trúc dạng vòm để phù hợp với dạng vòm 1của đầu dưới xương chày làm tăng diện tích tiếp xúc bề mặt khớp chày - sên góp phần giữ vững khớp.

Hệ thống dây chằng và bao khớp 1. Bao khớp Bám vào chu vi các diện khớp, ở phía trước mỏng, hai bên dày lên thành các dây chằng. Hệ thống dây chằng - Dây chằng bên trong: Còn gọi là dây chằng delta chia làm 2 lớp. 5 + Lớp nông rộng, hình quạt từ mắt cá trong xuống dưới tới xương sên, xương gót và xương ghe.

Gồm có các phần: Phần chày sên trước, chày gót, chày ghe. + Lớp sâu: Bám từ phần sau trong của mắt cá trong, gần như chạy ngang bám vào trục quay của xương sên, giữ xương sên không trật ra ngoài. Sự vững chắc của khớp cổ chân cơ bản do lớp sâu của dây chằng chi phối nên khi lớp sâu bị tổn thương sẽ làm giảm độ vững chắc của khớp cổ chân. Giải phẫu dây chằng delta tỏa xuống xương gót, xương sên và xương thuyền * Nguồn: Theo James B Carr.

- Các dây chằng bên ngoài: Dây chằng mác sên trước, dây chằng mác sên sau, dây chằng mác gót. Ba dây chằng này giúp cho việc ngăn chặn sự nghiêng của xương sên trong lỗ mộng. Các dây chằng khớp cổ chân và khớp sên cẳng chân (mặt ngoài) * Nguồn: Theo James B Carr. - Dây chằng chày mác dưới gồm 3 phần: + Phía trước: Dây chằng chày mác trước, chạy từ bờ trước ngoài xương chày đến bờ trước đầu dưới xương mác.

+ Phía sau: Dây chằng chày mác sau và dây chằng ngang dưới, chạy từ mắt cá sau đến phía sau đầu dưới xương mác. + Màng gian cốt: Nối xương chày và xương mác trên suốt chiều dài của xương, phía dưới dày lên thành dây chằng gian cốt. Hệ thống dây chằng chày mác dưới * Nguồn: Theo James B Carr. Gân cơ và các mạc hãm gân: - Phía trước: + Gân của các cơ vùng cẳng chân trước xuống mu chân xếp thành một hàng từ trong ra ngoài có gân cơ chày trước, gân cơ duỗi dài ngón cái, gân cơ duỗi dài các ngón chân.

+ Mỗi gân này nằm trong một chẽ của mạc hãm các gân duỗi và có 1 bao hoạt dịch riêng. Các gân cơ này tham gia vào động tác duỗi cổ chân và xoay trong. - Phía sau: + Ở ngoài có gân cơ mác dài ở sau, cơ mác ngắn ở trước được bọc trong một bao hoạt dịch chung. Các cơ này tham gia vào động tác gấp cổ chân, xoay trong và sấp.

+ Ở giữa có gân gót và gân cơ gan chân dính vào bờ trong của nó, đi xuống bám vào mặt sau xương gót, tham gia động tác gấp gan bàn chân. + Ở phía trong có các gân cơ gấp từ lớp sâu vùng cẳng chân sau đi xuống. Tất cả chạy qua vùng sau MCT còn gọi là ống gót để xuống gan chân. Biên độ và sinh cơ học khớp cổ chân - Vận động của khớp cổ chân gồm hai động tác gấp và duỗi, theo một trục chếch đi qua hai mắt cá.

Giới hạn hai động tác là 700. Trong đó: + Gấp về phía gan chân biên độ trung bình là 500. + Gấp về phía mu chân biên độ trung bình là 200. Ngoài ra khớp cổ chân còn tham gia các động tác khác như: Xoay ngoài - xoay trong, dạng - khép, sấp - ngửa.

- Trong lúc gấp cổ chân phần sau hẹp nhất của xương sên chui vào gọng mộng làm mắt cá ngoài tiến lại gần xương chày do sự co của các thớ chun của dây chằng chày mác. Khi duỗi cổ chân phần trước rộng nhất của xương sên chui vào gọng mộng làm mắt cá ngoài tách xa xương chày. Do 8 vậy xương sên luôn được giữ chặt giữa hai mắt cá, điều này giúp cho sự vận động gấp, duỗi của khớp cổ chân được dễ dàng, nhưng vẫn đảm bảo được vững chắc. Cơ chế chấn thương và tổn thương giải phẫu trong gãy Dupuytren Năm 1832, G.Dupuytren đã mô tả chấn thương vùng cổ chân do lực chấn thương làm dạng bàn chân gây ra những tổn thương: Gãy mắt cá trong, gãy 1/3 dưới xương mác, tổn thương dây chằng chày mác dưới, ông cũng mô tả trật xương sên ra ngoài gây doãng mộng chày mác.

Huguier (1848) đã nghiên cứu thêm hướng lực chấn thương làm xoay ngoài bàn chân gây gãy mắt cá trong hoặc đứt dây chằng delta, gãy xương mác ở 1/3 dưới đến 1/3 trên. Sự ra đời của tia X và những ứng dụng trong y học đã giúp cho nhiều tác giả nghiên cứu về cách phân loại tổn thương, cơ chế chấn thương vùng cổ chân như: Lauge - Hansen (1950), Danis - Weber (1966), AO (2020) [16], [32], [48]. Hình ảnh gãy mắt cá do cơ chế sấp xoay ngoài * Nguồn: Theo Samuel B. Adams và cộng sự.

Hình ảnh gãy mắt cá do cơ chế sấp dạng * Nguồn: Theo Samuel B. Adams và cộng sự. Hình ảnh gãy mắt cá do cơ chế ngửa xoay ngoài * Nguồn: Theo Samuel B. Adams và cộng sự.

Hình ảnh gãy mắt cá do cơ chế ngửa khép * Nguồn: Theo Samuel B. Adams và cộng sự. Có nhiều cơ chế chấn thương tùy thuộc vào tư thế của bàn chân và hướng lực gây chấn thương. Ứng với từng cơ chế có những hình thái tổn thương khác nhau.

Những thương tổn thường gặp trong gãy Dupuytren là: - Gãy mắt cá trong: Nếu do dây chằng delta căng giãn thì đường gãy ngang, nếu do xương sên đè nén trực tiếp thì đường gãy đứng dọc (cơ chế ngửa - khép). - Gãy xương mác: Ở 1/3 dưới hoặc đầu dưới, vị trí đường gãy ở trên hoặc ngang mức dây chằng chày mác dưới, hình thái đường gãy có thể ngang, chéo đơn thuần hoặc có mảnh rời tùy theo cơ chế chấn thương. - Doãng mộng chày mác, trật xương sên ra ngoài và ra sau. - Có thể gãy mắt cá sau kèm theo.

- Tổn thương hệ thống dây chằng bên trong, dây chằng bên ngoài, dây chằng chày mác dưới, màng gian cốt. Phân loại gãy Dupuytren Có nhiều cách phân loại gãy Dupuytren, tùy theo vị trí gãy xương mác các tác giả phân loại ra gãy Dupuytren cao và gãy Dupuytren thấp. Hai cách phân loại thường được sử dụng hiện nay trong gãy các mắt cá nói chung và 11 gãy Dupuytren nói riêng là phân loại của Lauge - Hansen và hệ thống phân loại của Danis - Weber. Hệ thống phân loại của Lauge - Hansen dựa trên vị trí của bàn chân và lực tác động trên nó tại thời điểm chấn thương, trong khi Danis - Weber dựa trên vị trí đường gãy của xương mác [48].

Sự phân loại của Weber có ích hơn trong việc quyết định phương pháp điều trị thích hợp. Gãy Dupuytren tương ứng với phân loại Danis Weber loại B và loại C [4]. Weber phân chia gãy các mắt cá thành 3 loại: - Kiểu A: Cổ chân bị khép, bàn chân xoay trong gây gãy mắt cá ngoài tại ngang hay dưới trần xương sên. Có hoặc không gãy mắt cá trong.

- Kiểu B: Cổ chân bị dạng và bàn chân bị xoay ngoài gây gãy chéo mắt cá ngoài tại ngang mức khớp chày mác dưới rách dây chằng chày mác dưới, gãy mắt cá trong hay rách dây chằng delta. - Kiểu C: Bao gồm C1: Gãy dạng cổ chân làm xương mác gãy chéo, trên dây chằng chày mác dưới. Dây chằng này thường bị đứt. C2: Gãy dạng và xoay ngoài làm xương mác gãy cao hơn nữa, màng gian cốt bị rách.

Mắt cá trong có thể gãy hoặc rách dây chằng delta. Phân loại gãy mắt cá theo Danis – Weber * Nguồn: Theo Matthew I. Lâm sàng và hình ảnh Xquang 1. Lâm sàng Sau một chấn thương tác động vào bàn chân và cổ chân, bệnh nhân có các triệu chứng chính sau: - Cơ năng: Đau vùng cổ chân, mất khả năng tì đỡ của bàn chân.

- Toàn thân: Thường không có gì thay đổi, trừ khi có các tổn thương nặng khác kèm theo. - Thực thể: + Cổ chân sưng nề, biến dạng đặc hiệu: Bàn chân xoay ngoài, cổ chân trật ra ngoài, dấu hiệu nhát rìu phía ngoài 1/3 dưới cẳng chân. Nếu muộn hơn có thể thấy bầm tím, phỏng nước vùng cổ chân. Trong trường hợp gãy mắt cá sau thấy cổ chân trật ra sau.

+ Thăm khám thấy cổ chân mất vững, dấu hiệu lạo xạo xương, ấn có điểm đau chói, biến dạng trục cổ bàn chân. + Khám xem có các tổn thương khác kèm theo không. Hình ảnh Xquang Để đánh giá thương tổn khớp cổ chân cần chụp Xquang 3 tư thế: Thẳng, nghiêng và tư thế thẳng kết hợp với bàn chân xoay trong 15o.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ