Chương 1: ỔN QUAN L ỆU 1. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu Chất ma tuý là các chất gây nghiện được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành. Chất dạng thuốc phiện (CDTP) là tên gọi chung cho nhiều chất như thuốc phiện, morphine, heroin, methadone, buprenorphine, codein, pethidine, fentanyle, có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não. Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma tuý và bị lệ thuộc vào các chất này.
Quá liều là tình trạng sử dụng một lượng chất ma túy lớn hơn khả năng dung nạp của cơ thể ở thời điểm đó, đe dọa tới tính mạng của người sử dụng nếu không được cấp cứu kịp thời. Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone gọi tắt là điều trị methadone. Cơ sở điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone gọi tắt là cơ sở điều trị methadone[5]. ặc điểm tình hình sử dụng ma túy và HIV/AIDS 1.
Trên thế giới Theo báo cáo của tổ chức ma tuý và tội phạm Liên Hiệp Quốc năm 2014 trên Thế giới có đến 4% dân số thường xuyên tiêu thụ ma túy, tức khoảng 230 triệu người, trong đó 6 triệu người nghiện cocaine, 5 triệu người nghiện hút thuốc phiện, heroin, 30 triệu người nghiện cần sa, 9 triệu người thường xuyên dùng thuốc ngủ và thuốc an thần[19]. Ma túy được trồng hầu như khắp nơi trên thế giới, những vùng tập trung lớn như: Tam giác vàng (Mianma, Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Việt Nam), Lưỡi liềm vàng (Iran, Pakistan, Tazekistan) và ở các nước Châu Mỹ La tinh, Pêru, Colombia, Bôlivia. Ma túy từ đây được vận chuyển đi khắp nơi, mà thị trường béo bở nhất hiện nay là Bắc Mỹ và các nước Châu Âu. Trong khi Mỹ La tinh là nguồn cung cấp 5 chủ yếu (70%) cocaine cho thị trường rộng lớn ở Bắc Mỹ và Tây Âu, thì vùng Tam giác vàng ở Đông Nam Á là: “Trung tâm kinh tế thuốc phiện” lớn nhất thế giới (sản xuất 2.
Việc sử dụng ma túy đang lan rộng làm tăng gánh nặng cho các nước, chủ yếu là các nước đang phát triển, đặc biệt là Đông Nam Á và khu vực Tây Á. Liên quan đến nghiện ma túy là sự lây nhiễm HIV ở nhóm này qua đường tiêm chích trong nhóm người nghiện chích và cho cộng đồng [53]. Ngoài ra, tiêm chích chung bơm kim tiêm c n có nguy cơ lây nhiễm virus viêm gan B và viêm gan C [11]. Nghiên cứu của Neaigus Alan tại Mỹ cho thấy tiêm chích chung bơm kim tiêm chưa tiệt trùng có nguy cơ lây nhiễm HIV cao gấp 3,2 lần, viêm gan B là 4,4 lần, viêm gan C là 3,0 lần[53].
Ông Jeremy Douglas - Trưởng Đại diện khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương của NODC cho rằng: “Thị trường ma túy tại Đông Á và Đông Nam Á có dấu hiệu cho thấy đang mở rộng mạnh mẽ. Các quốc gia trong khu vực tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong công tác thực thi pháp luật, công lý và giải quyết các vấn đề liên quan đến sức khỏe cần được cộng đồng quốc tế hỗ trợ”[19] 1. Tại Việt Nam Tính đến cuối năm 2014 Việt Nam có 181.200 người nghiện ma túy. So với cuối năm 1994, số người nghiện ma túy đã tăng khoảng 2,8 lần mức tăng xấp xỉ 9.000 người nghiện mỗi năm.
Người nghiện ma túy đã có 6 /6 tỉnh, thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã và gần 60% xã, phường, thị trấn trên cả nước[6]. Theo báo cáo của VAAC tính đến cuối năm 2014 số trường hợp nhiễm HIV cả nước hiện còn sống là 224.22 người, số nhiễm HIV đứng đầu là Thành phố Hồ Chí Minh với 52.507 trường hợp nhiễm HIV còn sống, tiếp đến là Hà Nội với 20.108 trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống [9]. Phân bố người nhiễm HIV theo giới nam giới chiếm 69%, nữ giới chiếm 31%. So sánh cùng kỳ năm 201 , tỷ lệ này giảm khoảng 2% ở nhóm nam và tăng gần 2% ở nhóm nữ giới, tỷ trọng người nhiễm HIV là nữ giới ngày càng nhiều.
Độ tuổi 20-39 tuổi chiếm 82 %. Tỷ lệ nhiễm HIV do lây nhiễm qua đường máu chiếm tỷ lệ cao nhất 46,7%, tiếp đến là do lây truyền qua đường tình dục chiếm 41,4%. Phân bố trường hợp nhiễm HIV theo đường lây có sự khác biệt giữa các khu vực, ở khu vực miền Nam phần lớn số người nhiễm HIV 6 được báo cáo trong năm 2011 lây nhiễm HIV qua đường tình dục chiếm tỷ lệ 63%, tỷ lệ này đặc biệt cao ở một số tỉnh, thành phố như: thành phố Hồ Chí Minh 11,9%, iên Giang 8,5%, Đồng Tháp 6%. Khác với khu vực miền Nam, đường lây chủ yếu ở khu vực miền Bắc là lây nhiễm qua đường máu, đặc biệt cao ở một số tỉnh, thành phố: Hà Nội 10,9%, Điện Biên 8,4%,Nghệ An 6,5%, Thái Nguyên 5,4%.
Do vậy hình thức can thiệp giảm nguy cơ lây nhiễm cho mỗi tỉnh cũng khác nhau tùy thuộc vào đặc thù tình hình dịch tại từng tỉnh, thành phố [9]. Tại tỉnh Bắc Giang Theo báo cáo của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Bắc Giang tính đến ngày 31/12/2014 toàn tỉnh có 1.70 người nhiễm HIV hiện còn sống. Dịch HIV xuất hiện ở hầu hết các địa bàn xã, phường, thị trấn của tỉnh Bắc Giang. Đến nay 10/10 huyện/TP với 207/2 0 xã, phường, thị trấn (90%) có người nhiễm, kể cả vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số [39].
Nam giới chiếm 68%, nữ 32% trong tổng số các trường hợp nhiễm HIV; nhóm tuổi từ 20-39 chiếm 88,9%, đặc biệt lứa tuổi 30-39 chiếm 38,9% [39]. Dịch HIV/AIDS tại tỉnh Bắc Giang vẫn trong giai đoạn tập trung với tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao trong các nhóm nguy cơ cao như NCMT, phụ nữ mại dâm. Đối tượng tập trung chủ yếu trong nhóm NCMT (52,8%), tình dục khác giới (13,9%), nhóm phụ nữ bán dâm (1,9%), phụ nữ có thai (2,6%), trẻ em (2,5%), bệnh nhân lao ( ,9%) và các đối tượng khác. Tỷ lệ nhiễm HIV qua giám sát trọng điểm trong nhóm NCMT cao nhất ở năm 2006 (58,6%); trong những năm gần đây tỷ lệ này có xu hướng giảm dần, đến năm 2014 chỉ còn 27,8%[39].
Theo báo cáo năm 2014 của Sở Lao động – Thương binh – Xã hội tỉnh Bắc Giang có 1.522 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý tăng 92 người so với năm 2013 [28], [29]. Phân loại chất ma túy Có nhiều cách để phân loại ma túy. Sau đây là hai cách thường được dùng: Phân loại theo luật pháp và phân loại theo tác dụng. Phân loại theo luật pháp Chia ma túy làm hai nhóm: hợp pháp và bất hợp pháp.
7 Ma túy hợp pháp Những loại ma túy hợp pháp thông dụng: - Rượu, bia - Ni-cô-tin (thuốc lá) - Ca-phê-in - Thuốc bác sĩ cho toa như thuốc ngủ an thần (sedative-hypnotics) gồm có: Ben-zô-đai-zê-pin (Benzodiazepines) như Serepax, Valium, Librium; Ba-bi-tuy-rết (Barbiturates) như Nembutal, Tuinal; Loại khác như Dormel, Mandrax - Thuốc giảm đau thông thường (minor analgesics) như Aspirin, Paracetamol. Ma túy bất hợp pháp - Cần sa (Cannabis) - Bạch phiến (Heroin) - Các loại gây ảo giác (Hallucinogens/Psychedelics): LSD, DMT, Psilocybin, Psilocin, Mescaline, DOM (STP), Phencyclidine or PCP, Ketamine. - Cô-ken (Cocaine) - Methaqualone và những loại gây nghiện (narcotics) mua không có toa bác sĩ. - Amphetamines/Methamphetamines và Barbiturates sản xuất bất hợp pháp.
Phân loại theo tác dụng - Các chất gây êm dịu + Các thuốc bình thản, giải lo âu, gây ngủ (Benzodiazepines, Barbituriques). + Các chất dạng thuốc phiện: Thuốc phiện, palfium, morphine, heroin, codein. - Các chất kích thần + Am-phê-ta-min và các chế phẩm của nó (Amphetamines hay "Speed" and related drugs) như: Dexamphetamine, Metamphetamine, Methylenedioxy- methamphetamine… + Cocaine và chế phẩm của Cocaine. - Các chất kích thần gây ảo giác : XTC (Ecstasy) 8 - Các chất gây yên dịu và ảo giác: Colles, Essences, Detachants etdissolvants.
- Các chất gây ảo giác: Các sản phẩm của Canabis. Các chất dạng thuốc phiện 1. Tác hại của các chất dạng thuốc phiện Chất dạng thuốc phiện (CDTP) là một loại chất gây nghiện mạnh, gây dung nạp nhanh và mạnh, gây lệ thuộc về cơ thể cũng như lệ thuộc về tinh thần, gây nhiễm độc cấp và mãn. Việc điều trị cũng gặp nhiều khó khăn do tỉ lệ tái nghiện cao[21].
Do những đặc tính vừa nêu trên, người nghiện lúc đầu chỉ hút, hít heroin mỗi ngày một lần nhưng càng về sau liều lượng ngày càng tăng cao, số lần sử dụng cũng phải tăng thêm. Rồi chuyển sang chích mới có thể đạt được hiệu quả như ban đầu. Vài giờ sau khi sử dụng người nghiện thấy thoải mái dễ chịu và tiếp theo đó lại cảm thấy thiếu thuốc, thèm thuốc và lại đi tìm heroin. Sau khoảng 6-8 giờ nếu không có heroin các triệu chứng cơ thể của hội cứng cai bắt đầu xuất hiện buộc người nghiện bằng mọi giá phải tìm cho kỳ được heroin.
Cứ vậy người nghiện không còn thời gian để làm việc khác. Tác hại của nghiện heroin được thể hiện trên nhiều mặt: Sức khỏe, công việc, kinh tế, gia đình, xã hội[21]. Về sức khỏe Người nghiện chán ăn dẫn đến gầy sút, sợ lạnh nên lười vệ sinh thân thể, dễ bị các bệnh da liễu, bệnh lao, các bệnh nhiễm khuẩn do tiêm chích không vô trùng (viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng máu. Luôn có nguy cơ bị sốc thuốc do tiêm thuốc nhanh và quá liều nhằm tìm lại khoái cảm như trước.
Đặc biệt dùng chung bơm kim tiêm và tình dục không an toàn dễ bị lây truyền các bệnh hoa liễu, viêm gan B, C và HIV/AIDS[21]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn và cộng sự, ở nhóm bệnh nhân tham gia điều trị thay thế bằng methadone (1997-2002), tỉ lệ viêm gan B và C trước khi vào điều trị là 41,2% (trên 68 bệnh nhân) và ở nhóm bệnh nhân tham gia điều trị duy trì bằng Naltrexone (2003-2007), tỉ lệ viêm gan B và C là 66,2% (trên 482 bệnh nhân)[23]. Về mặt tâm thần, người nghiện heroin thường gây biến đổi nhân cách theo 9 hướng xấu do ảnh hưởng của nhóm bạn nghiện: Thiếu kìm chế cảm xúc, thường xuyên xung đột với gia đình, lừa dối mọi người, không quan tâm tới con cái, từ bỏ mọi ham muốn sở thích trước kia, thiếu tinh thần trách nhiệm, thường xuyên ở trong trạng thái nhiễm độc heroin. Ngoài ra còn có thể có các rối loạn tâm thần khác như lo âu, trầm cảm, hoang tưởng, ảo giác[21].
Về công việc Do phân lớn thời gian dành cho việc tìm kiếm và sử dụng heroin nhằm giải quyết tình trạng đói thuốc, người nghiện luôn chểnh mảng, không tập trung vào công việc và học tập, không tuân thủ giờ giấc, nội qui nên dẫn đến mất việc hoặc phải bỏ học[21].