CHƯƠNG I KẾT NỔI HỆ THỐNG THÔNG TIN THƯƠNG MẠI I- VAITRO CUA THONG TIN THUONG MAI TRONG NEN KINH TE THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ QUẦN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC 4. Nhu cầu thông tin thương mại và đặc trưng của thông tin thương mai a. Nhu cầu thông tin Như chúng ta đều biết, hội nhập quốc tế đã tạo ra cơ hội thuận lợi để Việt Nam phát huy thế mạnh của mình, mở rộng thị trường, tranh thủ nắm bắt được công nghệ và tiến bộ kỹ thuật hiện đại của thế giới để phát triển nhanh và bền vững, tạo ra thế mạnh về số lượng và hạ giá thành sản phẩm khi thực hiện cạnh tranh để nâng cao cả về số lượng và chất lượng sản phẩm đặc biệt là các sản phẩm của Việt Nam có thế mạnh, tạo được chỗ đứng trên trường quốc tế. Hội nhập quốc tế là thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam về khả năng cạnh tranh, trình độ tay nghề người lao động, trình độ cắn bộ quản lý, chất lượng sản phẩm.
Trong điều kiện hiện nay, khi thông tin trở thành một nhu cầu không thể thiếu, là một bộ phận cấu thành của sản phẩm, thì việc xây dựng một mạng lưới thông tin rộng khắp gắn kết trong và ngoài nước, từ Trung ương đến địa phương để kịp thời trao đổi và truy cập thông tin là rất cần thiết. Nên kinh tế thị trường có đặc trưng là các hoạt động kinh doanh đều được tiến hành trên cơ sở nắm bắt thông tin về cung cầu thị trường, về đối thủ cạnh tranh và đối tác. Nói cách khác thông tin kinh tế thương mại là mạch máu của nền kinh tế thị trường, nếu không nói là quan trọng bậc nhất, là sơ sở để quyết định những bước tiếp của quá trình sản xuất kinh doanh. Hơn nữa, nó còn đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về kinh tế thương mại trong thời kỳ đổi mới.
Nhu cầu thông tin kinh tế thương mại rất rộng lớn, đa dạng và thuộc nhiều lĩnh vực và ngành nghề khác nhau phục vụ quá trình sản xuất và tái sản xuất của đoanh nghiệp và các tổ chức kinh tế. Sau đây là những nhu cầu chính về thông tin thương mại thị trường: Nhu cầu thông tín về tình hình thị trường: Các thông tin phản ảnh diễn biến thị trường hàng hoá, giá cả có vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của đoanh nghiệp và các tổ chức kinh tế. Các thông tin trên đòi hỏi tính kịp thời, chính xác và phải phản ánh được sự đa dạng, biến động của thị trường nhất là thị trường thế giới. Những thông tin chung về thị trường, ngành hàng và nền kinh tế quốc dân trong khu vực cũng như trên thế giới, sẽ giúp cho các cơ quan nghiên cứu, các cơ quan quản lý Nhà nước và nhất là các doanh nghiệp trong việc đánh giá, nhận xét và đưa ra các phương án kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Như cầu thông tin về xuất nhập khẩu và đầu tư: Cùng với nhu cầu thông tin về thương mại nói chung, thông tin về xuất nhập khẩu (XNK) và đầu tư cũng rất cần thiết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Bởi vì, xuất nhập khẩu và đầu tư là hai lĩnh vực mà theo đó nó quyết định đến hoạt động của doanh nghiệp vào quá trình hội nhập của quốc tế, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm có lợi thế trong xuất nhập khẩu. Đồng thời cũng đưa ra quyết định cụ thể và đầu tư như thế nào cho hợp lý, đem lại hiệu quả cao. Thông tin cần phải phong phi, hap dẫn, chính xác cả về số lượng cũng như về chất lượng.
Thông tin phục vụ XNK và đầu tư giúp cho các doanh nghiệp lựa chọn, phân tích cụ thể từng lĩnh vực và quyết định đầu tư cái gì, đầu tư như thế nào, đầu tư cho ai và phân phối tại thị trường nào. Nhờ vậy, giảm được chi phi tai chính cho việc tiếp thi, giao dịch, giảm thời gian. Kết quả cuối cùng là giảm được giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, rút ngắn chu kỳ kinh doanh. Nhu cầu thông tỉn về luật pháp: Có thể nói thông tin Luật pháp cũng không kém phần quan trọng, bởi tính chất quan trọng của pháp luật trong tuân thủ hành lang pháp lý trong kinh doanh.
Thông tin luật pháp còn giải quyết những vướng mắc gặp phải trong quá trình sản xuất kinh đoanh của doanh nghiệp. Nhu cầu thông tin về tình hình tài chính tiền tệ trên thị trường thể giới và dự báo: / Vấn đề tài chính tiền tệ sẽ tạo cho đoanh nghiệp nhanh chóng nhận biết tình hình và từ đó quyết định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Những biến động trên thị trường tiền tệ thế giới không chỉ tác động tới nền kinh tế một nước mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến kinh doanh của các cộng đồng doanh nghiệp, nhất là khi tham gia thanh toán quốc tế. Có thể thấy, thông tin về thị trường tài chính tiền tệ sẽ góp phần không nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế thương mại nói chung và xuất khẩu hàng hoá nói riêng.
Nhu cầu thông tin về đối thì cạnh tranh; đối tác: Ở bất kỳ doanh nghiệp nào kinh doanh hay sản xuất mặt hàng gì cũng có đổi thủ cạnh tranh. Thông tin về các đối thủ, bạn hàng trở thành nhu cầu cấp thiết và có ý nghĩa sống còn trong cạnh tranh, phát triển. Thông tin về đối thủ, đối tác có nhiều cấp độ khác nhau. 'Theo nhu cầu , các doanh nghiệp thường tổ chức riêng thông tin về đối tác, đối thủ của mình.
Các thông tin cơ bản cần thiết như tên, địa chỉ, ngành nghề kinh doanh, tên các yếu nhân, người liên lạc/giao tiếp, tình hình tổ chức, nhân sự. Các thông tin này thông thường được thu thập tương đối dễ và được công khai. Các thông tin về tình hình tài chính, các khoản vay, nợ, kế hoạch kinh doanh, các thương vụ đang tiến hành. là những thông tin thu thập không dễ dàng và được bảo vệ cẩn mật.
Các thông tin loại này không thuộc phạm vi cung cấp của hệ thông thông tin thương mại. Nhu cầu thông tin khác có liên quan: Các thông tin khác liên quan cũng rất cần thiết để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thương trường. Đó là các thông tin về tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực kinh doanh, thông tin về môi trường thời tiết, thông tin về tình hình và xu hướng chính trị, thông tin về văn hoá, xã hội, tín ngưỡng cũng cần thiết cho hoạch định kế hoạch kinh doanh. Đối tượng dùng tin Khi nghiên cứu nhu cầu thông tin thương mại thị trường, một điều quan trọng không thể không chú ý tới là đối tượng dùng tin.
Bởi vì nghiên cứu, nắm bất nhu cầu người dùng tin là một trong những nhiện vụ đầu tiên của cơ quan thông tin. Đối tượng dùng tin chủ yếu hiện nay là: - Các cơ quan lãnh đạo quản lý của Trung ương và địa phương: Đối với đối tượng dùng tin loại này, các thông tin cần quan tâm là những thông tin mang tính nhận định tình hình thị trường, những thông tin phản ánh tác động tích cực hay tiêu cực của các chính sách trong phát triển kinh tế thị trường. Ngoài ra còn phải kể đến những thông tin đột xuất khác, đặc biệt phục vụ cho việc điều chỉnh chính sách, đối sách hoặc đưa ra quyết định xử lý tình huống ở tầm vĩ mô; - Các nhà nghiên cứu: Cần thông tin về các số liệu thống kê hàng hoá (sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu), các chỉ tiêu kinh tế phản ánh cả một quá trình phát triển của đối tượng nghiên cứu, những định hướng phát triển kinh tế chung cũng như từng khu vực. thông tin về phát triển kinh tế ngành; - Các doanh nghiệp trong và ngoài nước: Đối tượng này rất cần thông tin thời sự về tình hình thị trường, về diễn biến giá cả hàng hoá trên các thị trường trong và ngoài nước; thông tin về dự báo, dự đoán tình hình sản xuất kinh doanh một số mặt hàng chủ yếu ở trong nước và trên thế giới; các văn bản pháp luật liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh; thông tin về vấn đề tài chính, tiền tệ và chính sách thương mại hàng hoá.
Trên thực tế, không thé phan chia rõ ràng ranh giới dùng tin của các đối tượng sử dụng tin. Không phải thông tin thời sự kinh tế là chỉ dùng cho doanh nghiệp và thông tin nhận định tình hình kinh tế, thị trường chỉ sử dụng cho các cơ quan quản lý Nhà nước. Điều đó là đo quan hệ giữa cái chung và cái riêng và nền kinh tế là một thực thể hữu cơ, phát triển liên tục, luôn luôn biến đổi. Hệ thống thông tin thương mại với hạt nhân là Trung tâm thông tin Hoạt động thông tin nói chung và hoạt động thông tin thương mại nói riêng là hoạt động không thể tiến hành một cách đơn lẻ, đòi hỏi phải có sự phối hợp liên kết, hỗ trợ lẫn nhau để cùng làm giầu nguồn thông tin.
Việc phối hợp, tổ chức thống nhất, chuẩn hoá trong thu thập, xử lý, lưu trữ trình bày và cung cấp thông tin có một ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nguồn lực thông tin, thúc đẩy hoạt động thông tin thương mại trên phạm vi toàn quốc và tạo điều kiện để hội nhập quốc tế. Hoạt động thông tin thương mại cần được tổ chức thành một hệ thống xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương. Hệ thống thông tin thương mại là tập hợp các đơn vị, tổ chức, phương tiện, thông tin cùng tham gia vào quá trình thu thập, xử lý, và cung cấp thông tin thương mại. Như vậy, hệ thống Thông tin Thương mại là một thể thống nhất.
Mọi bộ phận cấu thành của hệ thống hoạt động theo một cơ chế, hỗ trợ tuơng tác với nhau nhằm đạt tới mục tiêu chung của toàn bộ hệ thống. Xuất phát từ mục đích yêu cầu trên đây, tổ chức đỡ liệu trong hệ thống thông tin thương mại phải luôn đảm bảo tính toàn vẹn và nhất quán với cơ cấu tổ chức của hệ thống. Mặt khác hệ thống phải được xét trong thể động, trong sự phát triển, đồng thời trong hệ thống có hệ con, có hệ thống thông tin hiện đại bao trùm lên toàn bộ lĩnh vực thương mại thị trường và dịch vụ, phục vụ được nhu cầu về quản lý và điều hành vĩ mô của các cấp lãnh đạo, cũng như nhu cầu về thông tin của các đơn vị doanh nghiệp, cá nhân. Do vậy, khi xây dựng mô hình và tổ chức dữ liệu cần phải quán triệt các đặc điểm của hệ thống.