Luận Văn Thạc Sĩ Về Kết Hôn Đồng Giới Theo Pháp Luật Của Một Số Quốc Gia

Khám phá luận văn thạc sĩ về kết hôn đồng giới theo pháp luật của một số quốc gia, phân tích và so sánh các quy định pháp lý hiện hành.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Dân Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

101
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN ĐỒNG GIỚI VÀ QUY PHẠM PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ QUYỀN KẾT HÔN CỦA NGƯỜI ĐỒNG GIỚI

1.1. Khái quát chung về kết hôn đồng giới

1.2. Các quan điểm về đồng tính và nguyên nhân đồng tính

1.3. Sự phát triển các qui định về quyền kết hôn đồng giới

1.4. Qui phạm pháp luật quốc tế và của một số quốc gia trên thế giới về quyền kết hôn của người đồng tính

1.4.1. Hiến chương Liên hợp quốc

1.4.2. Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948

1.4.3. Những nguyên tắc Yogyakarta

1.5. Tác động của điều chỉnh pháp luật về việc kết hôn đồng giới

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG HỆ QUẢ CỦA ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VIỆC KẾT HÔN ĐỒNG GIỚI Ở MỘT SỐ NƯỚC

2.1. Nội dung pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về việc kết hôn đồng giới

2.2. Một số qui định pháp luật của quốc gia về kết hôn đồng giới

2.3. Một số quan điểm của nhóm quốc gia không công nhận kết hôn đồng giới

2.4. Một số quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về quyền kết hôn của người đồng tính

2.5. Tác động của điều chỉnh pháp luật việc kết hôn đồng giới ở một số nước

2.5.1. Những tác động của Hôn nhân đồng giới đối với vấn đề dân số

2.5.2. Tác động của hôn nhân đồng giới đối với thể chế hôn nhân khác truyền thống

2.5.3. Hôn nhân đồng giới đối với các cá nhân trong xã hội

2.5.4. Chức năng nuôi dưỡng và xã hội hóa con trẻ trong gia đình đồng tính

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KẾT HÔN ĐỒNG GIỚI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA HIỆN NAY

3.1. Thực trạng kết hôn đồng giới ở Việt Nam

3.1.1. Thực trạng về kết hôn đồng giới ở Việt Nam hiện nay

3.1.2. Thực trạng kết hôn đồng tính tại Việt Nam

3.2. Một số vấn đề pháp lý đặt ra hiện nay đối với quan hệ đồng giới tính

3.2.1. Các vấn đề pháp lý khi hôn nhân đồng giới không được thừa nhận

3.2.2. Hôn nhân đồng giới: Nên hay không nên được thừa nhận

3.2.3. Một số ý kiến về lộ trình tiến tới thừa nhận hôn nhân đồng giới ở Việt Nam

3.2.4. Bước đầu nên áp dụng theo hình thức kết đôi có đăng ký hay còn gọi là kết hợp dân sự

3.2.5. Cùng với việc thừa nhận hình thức kết hợp dân sự thì pháp luật cần phải có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo ra sự thống nhất trong văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình

3.2.6. Ban hành một văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hình thức kết hợp dân sự

3.2.7. Rà soát các văn bản pháp luật hiện hành nhằm có những điều chỉnh thích hợp theo hướng thừa nhận vấn đề kết hợp dân sự

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kết Hôn Đồng Giới Tại Việt Nam

Kết hôn đồng giới là một chủ đề đang thu hút sự chú ý tại Việt Nam. Mặc dù có khoảng 1,65 triệu người đồng tính trong độ tuổi từ 15-59, nhưng pháp luật Việt Nam vẫn chưa thừa nhận hôn nhân đồng giới. Điều này tạo ra nhiều thách thức cho cộng đồng LGBT trong việc thực hiện quyền lợi của họ.

1.1. Khái Niệm Về Kết Hôn Đồng Giới

Kết hôn đồng giới được hiểu là mối quan hệ hôn nhân giữa hai người cùng giới tính. Đây là một khái niệm đã tồn tại từ lâu trong lịch sử và đang ngày càng được công nhận trên toàn thế giới.

1.2. Lịch Sử Phát Triển Của Kết Hôn Đồng Giới

Lịch sử của kết hôn đồng giới có thể được truy nguyên từ thời cổ đại, khi mà các nền văn hóa khác nhau đã có những quan điểm khác nhau về tình yêu và hôn nhân giữa những người cùng giới.

II. Thực Trạng Pháp Luật Về Kết Hôn Đồng Giới Tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam hiện nay không công nhận hôn nhân đồng giới, điều này dẫn đến nhiều vấn đề pháp lý cho cộng đồng LGBT. Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cấm việc kết hôn giữa những người cùng giới tính, tạo ra một khoảng trống pháp lý lớn.

2.1. Các Quy Định Pháp Luật Hiện Hành

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ thừa nhận hôn nhân giữa nam và nữ, không có quy định nào cho phép hôn nhân đồng giới. Điều này gây khó khăn cho những người đồng tính trong việc bảo vệ quyền lợi của mình.

2.2. Những Hệ Quả Của Việc Không Thừa Nhận Hôn Nhân Đồng Giới

Việc không thừa nhận hôn nhân đồng giới dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực, bao gồm việc thiếu cơ chế pháp lý để giải quyết tranh chấp tài sản và quyền nuôi con giữa các cặp đôi đồng giới.

III. Vấn Đề Xã Hội Liên Quan Đến Kết Hôn Đồng Giới

Kết hôn đồng giới không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là vấn đề xã hội. Sự kỳ thị và định kiến xã hội đối với người đồng tính vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến cuộc sống của họ.

3.1. Định Kiến Xã Hội Đối Với Người Đồng Tính

Định kiến xã hội về người đồng tính vẫn còn mạnh mẽ, dẫn đến sự phân biệt đối xử trong nhiều lĩnh vực, từ công việc đến gia đình.

3.2. Những Khó Khăn Trong Cuộc Sống Hàng Ngày

Người đồng tính thường phải đối mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống hàng ngày, từ việc tìm kiếm việc làm đến việc được chấp nhận trong gia đình và cộng đồng.

IV. Giải Pháp Để Thúc Đẩy Quyền Lợi Của Người Đồng Tính

Để cải thiện tình hình cho người đồng tính tại Việt Nam, cần có những giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy quyền lợi của họ, bao gồm việc thay đổi pháp luật và nâng cao nhận thức xã hội.

4.1. Cần Thay Đổi Pháp Luật

Việc sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình để thừa nhận hôn nhân đồng giới là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người đồng tính và tạo ra một môi trường pháp lý công bằng hơn.

4.2. Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng

Cần có các chương trình giáo dục và truyền thông để nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền lợi của người đồng tính, từ đó giảm thiểu định kiến và sự phân biệt đối xử.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Kết Hôn Đồng Giới Tại Việt Nam

Tương lai của kết hôn đồng giới tại Việt Nam phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sự thay đổi trong nhận thức xã hội và sự điều chỉnh của pháp luật. Việc thừa nhận hôn nhân đồng giới sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cả cá nhân và xã hội.

5.1. Triển Vọng Phát Triển

Nếu pháp luật được thay đổi để thừa nhận hôn nhân đồng giới, điều này sẽ tạo ra một bước tiến lớn trong việc bảo vệ quyền lợi của người đồng tính tại Việt Nam.

5.2. Tác Động Tích Cực Đến Xã Hội

Việc thừa nhận hôn nhân đồng giới không chỉ mang lại lợi ích cho cộng đồng LGBT mà còn góp phần xây dựng một xã hội công bằng và bình đẳng hơn.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls kết hôn đồng giới theo pháp luật của một số quốc gia

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN ĐỒNG GIỚI VÀ QUY PHẠM PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VỀ QUYỀN KẾT HÔN CỦA NGƯỜI ĐỒNG GIỚI 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾT HÔN ĐỒNG GIỚI Người đồng tính không phải trong xã hội hiện đại mới có mà sự xuất hiện và tồn tại người đồng tính đã được chứng minh có tính lịch sử. Tuy nhiên trong mỗi thời điểm lịch sử những vấn đề pháp lý liên quan đến người đồng tính đến nay đối với mỗi quốc gia đều có những quy định khác nhau, sự khác nhau trong các quy định pháp luật của mỗi quốc gia có nhiều yếu tố tác động đến như yếu tố chính trị, yếu tố văn hóa, truyền thống, tôn giáo, đạo đức…tuy nhiên trên thế giới hiện nay đều thống nhất về khái niệm về người đồng tính như sau: Nói về cộng đồng những người đồng tính nữ(Lesbian ), đồng tính nam(Gay), những người song tính(Bisexual) và chuyển giới(Transgender), viết tắt LGBT. Người đồng tính : Người đồng tính (Lesbian, Gay) là người có cảm giác hấp dẫn về tình cảm, thể chất với người cùng giới.

Người song tính: Người song tính (Bisexsual) là người có cảm giác hấp dẫn về tình cảm, thể chất với cả hai giới. Người dị tính: Người dị tính là người có cảm giác hấp dẫn về tình cảm, thể chất với người khác giới. Người chuyển giới: Người chuyển giới (Transgender) là trạng thái khi một người có giới tính sinh học không trùng với bản dạng giới hay thể hiện giới của họ (ví dụ có cơ thể là nam và nghĩ mình là nữ, hoặc bề ngoài như nữ). Người chuyển giới liên quan tới việc người đó nhận dạng hoặc thể hiện mình 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là nam hay nữ, trong khi người đồng tính lại liên quan tới việc người đó yêu người cùng giới hay khác giới.

Các quan điểm về đồng tính và nguyên nhân đồng tính 1. Quan điểm về đồng tính Đồng tính là thuật ngữ và là một hiện tượng đã có từ rất lâu trong lịch sử loài người, các tài liệu đầu tiên liên quan đến người đồng tính đến từ Hy lạp cổ đại. Mối quan hệ đó đã không thay thế hôn nhân giữa người nam và người nữ, nhưng xảy ra trước và bên cạnh nó. Như đại đế Alexander và Hephaestion, nhưng người đàn ông lớn tuổi thường sẽ là erastes (người yêu) một thanh niên eromenos (người thân).

Ở Trung Quốc từ thời cổ đại đồng tính đã được công nhận Scholar Pan Guangdan đến kết luận rằng gần như tất cả các hoàng đế trong triều đại nhà Hán đã có một hoặc nhiều đối tác tình dục của nam giới. Ngoài đồng tính nam thì đồng tính nữ còn được mô tả trong một số cuốn sách lịch sử. Tình yêu đồng tính đã được thể hiện trong nghệ thuật Trung Quốc. Tuy tài liệu còn lưu lại không nhiều song nhiều bức tranh nghệ thuật trên lụa có thể được tìm thấy trong các bộ sưu tập tư nhân.

Đến thời kỳ cận đại thì đồng tính được nhiều quốc gia quan tâm hơn, nhiều nhà khoa học đã thực hiện các cuộc nghiên cứu về người đồng tính, trước thế kỷ XIX nhiều quốc gia đã đưa đồng tính vào danh sách các bệnh về tâm thần. Quan niệm đồng tính luyến ái là rối loạn tâm lý là một quan niệm phổ biến ở phương Tây từ thế kỷ XIX và sang đến một phần thế kỷ XX, và có lẽ nó lan truyền cùng với sự phổ biến của y học phương Tây. Đến những thập niên cuối thế kỷ XX, khoa học đã khẳng định đồng tính luyến ái không phải là bệnh. Nhiều nước lần lượt loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần, bắt đầu là Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ đã loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh tâm thần vào năm 1973.

Tại Trung Quốc năm 2001 cũng đã loại đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần. Đồng tính luyến ái được coi là 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một phần của đa dạng tính dục con người, không phải là bệnh và cũng không phải là giới tính thứ ba. Đến năm 1990, Tổ chức Y tế Thế giới - cơ quan của Liên hợp quốc cố vấn chuyên môn cho các quốc gia về y tế đã loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm thần. Bên cạnh đó, tháng 6/2011, Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết khẳng định: "mọi người đều có quyền bình đẳng, bất kể thiên hướng tình dục như thế nào".

Đến ngày 7/3/2012, Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon đã có bài phát biểu lịch sử kêu gọi các quốc gia trên toàn thế giới phi hình sự hóa đồng tính, chấm dứt kỳ thị với những người đồng tính, lưỡng tính và chuyển giới (thuật ngữ tiếng Anh viết tắt là LGBT). Như vậy, quan niệm về người đồng tính rất đa dạng và điều này phản ảnh sự đa dạng về cách hiểu thế nào là người đồng tính của xã hội. Sự đa dạng này xuất phát từ cách nhìn nhận các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống xã hội - từ góc độ con người sinh học, đặc điểm cấu tạo cơ thể, thay đổi nội tiết tố bên trong cơ thể, thể hiện giới bên ngoài, hay vai trò giới v.v… Cho dù quan niệm về người đồng tính được nói đến ở khía cạnh nào thì hầu hết cũng dựa trên bản chất "là hai người cùng giới yêu nhau và có ham muốn quan hệ tình dục với nhau". Như vậy, có thể khái niệm người đồng tính là người có sự hấp dẫn về cảm xúc hoặc tình cảm hoặc tình dục với người cùng giới.

Người đồng tính nam thường gọi là "gay" và người đồng tính nữ thường được gọi là "les"/"lesbian". Giả thuyết về nguyên nhân đồng tính Có nhiều giả thuyết với nhiều cách lý giải khác nhau về nguyên nhân dẫn đến đồng tính. Đã có nhiều giả thuyết nêu rằng do di truyền học, sinh hóa học - nội tiết và các yếu tố cấu trúc. Song không giả thuyết nào được kiểm chứng cả, cuối cùng các nhà khoa học đã chia ra hai nguyên nhân chính dẫn đến đồng tính là do bẩm sinh và do yếu tố bên ngoài tác động.

* Giả thuyết do bẩm sinh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Giả thuyết dựa trên di truyền học Nói đến di truyền của người đồng tính người ta thường nói đến khuynh hướng tự nhiên hầu như không thể chữa trị được nổi của cá nhân nào đó. Nhưng khuynh hướng tự nhiên di chuyển từ một người từ thế hệ trước sang một người thuộc thế hệ sau như thế nào, khoa học vẫn chưa chứng minh được. Có thời gian các nhà khoa học cho rằng đồng tính có thể mã hóa bằng gen, có nghĩa là có khả năng di truyền, song luận chứng này lại dựa trên cơ sở truyền thuyết cho rằng: Tồn tại một lúc nào đó, con người đã từng có 3 giống: "Giống đực", "giống cái" và "giống trung" có khả năng đóng vai trò cả đàn ông và đàn bà. Tuy nhiên về nguyên nhân này khoa học vẫn chưa có bằng chứng có tính thuyết phục.

Vào năm 1953, trong công trình khảo cứu "Di truyền trong sức khỏe và rối loạn tinh thần", E.j Kalhan đã tiến hành trên những trẻ sinh đôi hợp tử và song hợp tử đã cho thấy; trong mọi trường hợp sinh đôi đơn hợp tử, khi một đứa đồng tính, thì đứa kia cũng thế. Điều này không thấy ở những trường hợp sinh đôi song hợp tử. Nhưng ngay sau đó, đã có những công trình khác, lại có những chứng minh phản hồi lại ông, khi họ xác định được những trường hợp sinh đôi đơn hợp tử có khuynh hướng tình dục khác nhau. Nhưng cho dù giải thích được trên cơ sở khoa học, người ta vẫn không thể lý giải được tại sao có những người đồng tính cơ quan sinh dục phát triển bình thường, cứ lao vào các cuộc tiếp xúc tình dục đồng tính mặc dù họ cứ bình thản sinh hoạt tình dục với người khác giới? Vấn đề đó còn là một dấu hỏi, đa số các nhà nghiên cứu ngã về ý tưởng cho rằng điều đó phụ thuộc nhiều vào việc giáo dục giới tính đúng đắn.

Trần Bồng Sơn, "bản tính là điều đa số các tác giả nhất trí, nhưng chưa ai hiểu tại sao, và nằm chỗ nào trong não, giả thuyết cho rằng có trục trặc ở hệ não viền vẫn chưa được chứng minh". - Giả thuyết dựa trên thần kinh - nội tiết và các yếu tố cấu trúc 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tiến sĩ Vladirmir Sakhizanhia đồng tính xuất hiện là do một biểu hiện của thần kinh, đặc tính của nó là con người có xu hướng thực hiện các hành động khác nhau chống lại xã hội và phá hủy những chuẩn mực đã được xã hội chấp nhận và bao gồm cả các hiện tượng không kiểm soát được hành động của bản thân. Theo ý kiến của các nhà nghiên cứu, nếu nói về đồng tính thì đa số các trường hợp là do phát triển không bình thường, sai lệch giới tính, nhưng tuyệt nhiên đây không phải bệnh tật. Tố chất dẫn tới đồng tính có thể xuất hiện từ giai đoạn từ trong bụng mẹ khi trung tâm thần kinh điều khiển sự ham muốn tình dục được hình thành.

Sự rối loạn của trung tâm thần kinh đó sẽ dẫn tới sự mất cân bằng hormone và dĩ nhiên sẽ làm rối loạn việc cung cấp nội tiết tố cho chức năng giới tính, và kết quả là sẽ có xu hướng tình dục lệch lạc. * Giả thuyết do các yếu tố bên ngoài tác động - Giả thuyết dựa trên các yếu tố giáo dục Theo tiến sĩ V.Sakhizanhia, người ta có thể làm bất kỳ một người nào đó trở thành đồng tính được. Theo ông, "việc giáo dục giới tính sai lệch, không có mục đích đúng đắn đối với người khác giới" đó chính là nguyên nhân làm một người bình thường bị đồng tính. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như do tò mò hoặc bị ép buộc quan hệ tình dục với người đồng tính, sau đó vài lần thì trở thành thói quen, như là một sự lôi cuốn và cứ muốn tiếp tục việc ấy.

Ở Ailen, một nơi được coi là có nền văn hóa "trấn áp tình dục", qua khảo sát của các nhà khoa học thì "ở đó bà mẹ vốn là những người có uy tín nhất trong gia đình đã luôn nhồi nhét cho con trai những thành kiến đối với phái nữ. Các ông bố cũng thái độ ác cảm không kém. Đây có thể những yếu tố gây nên xu hướng tình dục đồng tính vốn đang diễn ra âm thầm trong cư dân địa phương".

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kết Hôn Đồng Giới: Pháp Luật và Thực Trạng Tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình pháp lý và thực tiễn liên quan đến hôn nhân đồng giới tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ nêu rõ những quy định pháp luật hiện hành mà còn phân tích những thách thức mà cộng đồng LGBTQ+ đang phải đối mặt. Một trong những điểm nổi bật là sự thiếu hụt trong khung pháp lý bảo vệ quyền lợi của các cặp đôi đồng giới, điều này dẫn đến nhiều vấn đề trong việc công nhận và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích, từ những khía cạnh pháp lý cho đến những câu chuyện thực tế, giúp họ hiểu rõ hơn về tình hình hiện tại và những nỗ lực cần thiết để cải thiện. Để mở rộng kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án ts luật học chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật việt nam, nơi cung cấp cái nhìn sâu hơn về chế độ tài sản trong hôn nhân, một vấn đề có liên quan mật thiết đến hôn nhân đồng giới. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh pháp lý và xã hội của hôn nhân tại Việt Nam.