Tổng quan luận án

Chế định chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận từng tồn tại trong lịch sử lập pháp Việt Nam thời cận đại dưới các tên gọi như "hợp đồng hôn nhân" hay "khế ước hôn nhân" (hôn khế). Giai đoạn tiếp theo, chế định này không được ghi nhận trong các đạo luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước Việt Nam các năm 1959, 1986 và 2000; các văn bản này chỉ áp dụng chế độ tài sản theo luật định (chế độ cộng đồng toàn sản trong Luật năm 1959, chế độ cộng đồng tạo sản trong Luật năm 1986 và năm 2000). Đến Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận mới chính thức được ghi nhận trở lại nhằm đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và phục vụ tiến trình hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành mới dừng lại ở tính chất định khung, bộc lộ sự cứng nhắc so với pháp luật quốc tế, dẫn đến thực trạng số lượng các cặp vợ chồng lựa chọn chế độ này còn rất ít. Các vướng mắc pháp lý và khoảng trống nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Thời điểm xác lập thỏa thuận: Điều 47 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chỉ công nhận thỏa thuận được lập trước khi kết hôn. Thực tiễn phát sinh các văn bản cam kết, thỏa thuận tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân nhưng việc xác định hiệu lực của các văn bản này còn gây nhiều tranh cãi giữa việc tuyên bố vô hiệu do sai thời điểm hay công nhận như một giao dịch dân sự tự nguyện.
  • Hình thức và hệ quả vi phạm: Quy định bắt buộc thỏa thuận phải lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực (Điều 47), song nếu vi phạm điều kiện này thì việc xử lý theo Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 gặp bế tắc do không thể lượng hóa tiêu chí "đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch" đối với quan hệ tài sản hôn nhân không xác định thời hạn.
  • Điều kiện sửa đổi, bổ sung: Các quy định cho phép sửa đổi, bổ sung thỏa thuận hiện nay còn quá "mở", thiếu cơ chế kiểm soát và thiếu căn cứ xử lý khi có tranh chấp hoặc khi hoàn cảnh kinh tế thay đổi.
  • Căn cứ vô hiệu: Điều 50 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP chưa giải quyết thỏa đáng trường hợp thỏa thuận xác lập trước kết hôn nhưng sau đó hôn nhân bị Tòa án hủy do kết hôn trái pháp luật; chưa dự liệu thời điểm phát sinh hiệu lực của thỏa thuận khi một bên ban đầu vi phạm điều kiện kết hôn nhưng sau đó được công nhận quan hệ hôn nhân; đồng thời chưa có tiêu chí định lượng cụ thể cho hành vi "vi phạm nghiêm trọng" quyền cấp dưỡng, quyền thừa kế.
  • Căn cứ chấm dứt chế độ tài sản: Quy định về việc chấm dứt thỏa thuận khi quan hệ hôn nhân vẫn đang tồn tại (điểm c khoản 1 Điều 48) chưa được hướng dẫn chi tiết về trình tự và hệ quả pháp lý.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng. Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa pháp lý và xã hội.
  2. Phân tích và đánh giá thực trạng quy định pháp luật cùng thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận tại Việt Nam; đối chiếu với quy định của một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra bài học kinh nghiệm.
  3. Đề xuất một số kiến nghị cụ thể góp phần hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ sở lý luận của các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận; hệ thống quy định pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số quốc gia; thực tiễn thực hiện pháp luật về chế độ tài sản này. Phạm vi nghiên cứu được xác định:

  • Về nội dung: Tập trung vào cơ sở lý luận, thực trạng quy định pháp luật thực định và thực tiễn thực hiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận tại Việt Nam.
  • Về không gian: Phạm vi lãnh thổ Việt Nam, có sự đối chiếu so sánh với pháp luật của các quốc gia như Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Australia, Nhật Bản, Thái Lan...
  • Về thời gian: Tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành và khảo sát, thống kê số liệu các vụ án tranh chấp tài sản của vợ chồng được giải quyết tại Tòa án trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài cho thấy vấn đề chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong nước và quốc tế dưới nhiều góc độ tiếp cận:

Nhóm các nghiên cứu quốc tế

  • Tại Vương quốc Anh và Đức: Anne Sanders (trong công trình "Private autonomy and marital property agreements", tạp chí The International and Comparative Law Quarterly) phân tích phán quyết trong vụ việc Radmacher v Granatino, lập luận ủng hộ thỏa thuận tiền hôn nhân dựa trên quyền tự chủ cá nhân hình thành từ thế kỷ XIX tại Đức. Nigel Lowe ("Prenuptial agreements: the English position", tạp chí InDret) chỉ ra pháp luật Anh truyền thống không xây dựng chế độ tài sản gia đình đặc thù và không có khái niệm cộng đồng tài sản, từ đó đề xuất cải cách luật. Jens M. Scherpe (2012, sách "Marital Agreements and Private Autonomy in Comparative Perspective", NXB Hart) so sánh phạm vi và tính ràng buộc của các thỏa thuận tiền hôn nhân, hậu hôn nhân và ly thân tại Anh, Úc, Áo, Bỉ, Pháp, Đức, Ireland, Hà Lan, New Zealand, Scotland, Singapore, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Hoa Kỳ. James L. Davis (1971) nghiên cứu sự phát triển pháp luật tài sản hôn nhân tại Anh, Australia và New Zealand. Andrew Bainham chủ biên xuất bản niên giám thường niên "International Survey of Family Law".
  • Tại Hoa Kỳ: Debele và Susan C. Rhode ("Prenuptial Agreement in the United States") nghiên cứu sự dịch chuyển lịch sử của pháp luật Mỹ từ chỗ từ chối công nhận hôn ước (do lo ngại khuyến khích ly hôn) đến việc thừa nhận phổ biến khi độ tuổi tích lũy tài sản của các bên trẻ hóa. Palma M. Forte (1996, Marquette Law Review) khảo sát việc Tiểu bang Wisconsin áp dụng Đạo luật tài sản hôn nhân thống nhất (UMPA) từ năm 1986 thông qua quy chế bang (mục 766.58). Frederic S. Schwartz (1985) và Max Rheinstein cũng công bố các nghiên cứu về thỏa thuận và phân chia tài sản hôn nhân tại Wisconsin và Chicago (bang Illinois). Iosif Florin Moldovan (2015, Tạp chí Legal Studies) phân tích chế định phân chia tài sản và chế định tài sản chung trong pháp luật Hoa Kỳ.
  • Tại Pháp: Nicolas Prémeaux và Marion Leturcq (2017, "Prenuptial agreements and matrimonial property regimes in France 1855-2010", Exploration in Economic History) cung cấp chuỗi số liệu lịch sử: năm 1855 có khoảng 40% cặp vợ chồng ký thỏa thuận tiền hôn nhân; tỷ lệ này giảm xuống dưới 10% sau cuộc cải cách chế độ tài sản năm 1965, và tăng trở lại mức 18% vào năm 2010 sau khi ban hành quy định ly hôn không có lỗi năm 1975. Nghiên cứu chỉ ra 3 nguyên nhân biến động: khác biệt văn hóa vùng miền, tiến trình phát triển của chế định của hồi môn, và sự gia tăng lựa chọn các chế độ tài sản. Thỏa thuận tiền hôn nhân tại Pháp gồm 4 nội dung bắt buộc: chế độ tài sản áp dụng, danh mục tài sản của từng bên, khoản thanh toán của hồi môn (nếu có), và nguyên tắc áp dụng khi một bên qua đời.
  • Tại khu vực Châu Á: Nghiên cứu tại Trung Quốc ghi nhận Điều 19 Luật Hôn nhân năm 2001 và hướng dẫn năm 2003 của Tòa án Tối cao Trung Quốc về các loại tài sản được đưa vào thỏa thuận (thu nhập đầu tư, bảo hiểm, trợ cấp, quyền sở hữu trí tuệ); Cheng Yingqi (2011, China Daily) công bố khảo sát thực tế cho thấy dưới 5% cặp vợ chồng tại các đô thị cấp một ký thỏa thuận trước kết hôn và gần 90% người chưa kết hôn không đồng tình với việc lập thỏa thuận tài sản. Bài viết "Prenuptial Agreements in Japan" chỉ ra Nhật Bản thừa nhận giá trị pháp lý của thỏa thuận tiền hôn nhân nhưng việc sửa đổi trong thời kỳ hôn nhân bị hạn chế nghiêm ngặt, chỉ được chấp thuận thông qua Tòa án gia đình khi có hành vi phá tán tài sản. Tại Thái Lan, Robkun Rayanakorn (1990) phân tích Điều 1466 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan về các trường hợp thỏa thuận bị vô hiệu và thủ tục sửa đổi phải qua Tòa án phê chuẩn để ghi vào Sổ đăng ký kết hôn. Tác giả Piazzalunga cũng công bố nghiên cứu về tác động của chế độ tài sản thỏa thuận đối với hoạt động đầu tư trong hôn nhân.
  • Tại Australia: Tạ Đình Uyên (Tạp chí TAND) phân tích Đạo luật Gia đình Australia năm 1975 (với hai loại thỏa thuận theo Điều 86 và Điều 87). Đạo luật sửa đổi năm 2000 bổ sung Phần VIIIA cho phép xác lập thỏa thuận tài chính (Financial agreements) ở cả ba thời điểm: trước hôn nhân, trong hôn nhân (bao gồm cả khi ly thân) và sau khi ly hôn (Điều 90B, 90C). Đạo luật sửa đổi năm 2008 mở rộng hiệu lực đối với người thứ ba và hôn nhân đồng giới, đồng thời quy định cụ thể việc chấm dứt hiệu lực (Điều 90J), hiệu lực khi một bên chết (Điều 90H) và căn cứ tuyên bố vô hiệu (Điều 90K).

Nhóm các nghiên cứu trong nước

  • Sách chuyên khảo và giáo trình: Nguyễn Văn Cừ (2008, "Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam", NXB Tư pháp) phân tích lịch sử và quy định theo Luật năm 2000; Quách Văn Dương (2018, NXB Tư pháp) phân tích chế định tài sản theo Luật năm 2014; Nguyễn Ngọc Điện và Đoàn Thị Phương Diệp (2018, "Pháp luật về quan hệ tài sản giữa vợ chồng", NXB ĐHQG TPHCM) phân tích chuyên sâu 7 vấn đề pháp lý của chế độ thỏa thuận theo Luật năm 2014 và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP; Giáo trình Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2018).
  • Luận án và luận văn: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Cừ (2005) và Bùi Minh Hồng (2012, Đại học Rennes 1) nghiên cứu so sánh nhưng thực hiện trước thời điểm Luật năm 2014 được ban hành. Các luận văn thạc sĩ luật học chuyên đề gồm: Nguyễn Thị Thu Thủy (2015), Nguyễn Thị Kim Dung (2014), Lê Thị Hòa (2016), Nguyễn Hương Giang (2017), Hoàng Thị Ngân (2018), Đoàn Thị Lương (2018). Nhóm luận văn khảo sát thực tiễn xét xử giải quyết chia tài sản tại địa phương gồm: Trần Quốc Bảo (2020, huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn), Bùi Tiến Bình (2018, TP. Sơn La), Nguyễn Thị Thu Hà (2017, TP. Hà Nội). Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường do PGS.TS. Nguyễn Thị Lan làm chủ nhiệm (2021) và đề tài của Lê Thị Thanh Trúc cũng phân tích thực trạng chế định này.
  • Bài viết tạp chí chuyên ngành: Nguyễn Hồng Hải (1998, Tạp chí Luật học); Bùi Minh Hồng (2009, Tạp chí Luật học); Nguyễn Văn Cừ (2012, 2015, Tạp chí Luật học); Nguyễn Thị Thu Hoài (2020, Tạp chí Công thương); Nguyễn Ngọc Điện và Đoàn Thị Phương Diệp (2016, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp); Đoàn Thị Phương Diệp (2016, 2017); Hoàng Thị Khánh Linh (2016, Tạp chí Luật sư Việt Nam); Ngô Thanh Hương (2020, Tạp chí Nghề luật); Ngô Thị Anh Vân (2016, Tạp chí Khoa học Pháp lý); Phạm Thị Linh Nhâm (2016, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật).
Nhóm công trình Tác giả tiêu biểu Phạm vi và nội dung nghiên cứu Khoảng trống / Giới hạn so với Luận án
Nghiên cứu quốc tế Nicolas Prémeaux & Marion Leturcq (2017); Anne Sanders; Jens M. Scherpe (2012); Tạ Đình Uyên (Australia). Lịch sử thỏa thuận tại Pháp 1855-2010; án lệ Anh; mô hình lập pháp tại Hoa Kỳ, Australia, Thái Lan, Nhật Bản. Chưa gắn với thực tiễn chuyển đổi lập pháp và hệ thống tố tụng dân sự Việt Nam theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Sách chuyên khảo & Luận án trước 2014 Nguyễn Văn Cừ (2005, 2008); Bùi Minh Hồng (2009, 2012). Phân tích lý luận CĐTS theo luật định qua các thời kỳ lịch sử; so sánh đối chiếu pháp luật Pháp - Việt Nam. Nghiên cứu trước khi Luật năm 2014 ra đời; chưa thể đánh giá thực trạng thi hành chế định thỏa thuận thực định.
Luận văn & bài báo sau năm 2014 Nguyễn Ngọc Điện & Đoàn Thị Phương Diệp (2016, 2018); Ngô Thanh Hương (2020); Nguyễn Thị Thu Thủy (2015). Phân tích các điều khoản Luật năm 2014, Nghị định 126/2014/NĐ-CP; tính vô hiệu và bảo vệ người thứ ba. Tiếp cận dừng lại ở từng khía cạnh hẹp; dẫn chứng thực tiễn mang tính minh họa đơn lẻ; chưa khảo sát diện rộng.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình trước đây đã tiếp cận đề tài ở một số khía cạnh riêng lẻ, đến nay chưa có công trình nào ở cấp độ luận án tiến sĩ đánh giá toàn diện chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận kể từ khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực. Phần lớn các công trình trước chỉ phân tích thuần túy các điều luật thực định sẵn có mà chưa truy nguyên nguồn gốc học thuyết lý luận; chưa có khảo sát xã hội học bài bản để giải mã nguyên nhân tỷ lệ xác lập thỏa thuận thấp trong thực tế; đồng thời chưa giải quyết thấu đáo các xung đột kỹ thuật lập pháp giữa Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý luận và hệ thống phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

Khung lý thuyết và quan điểm nền tảng

  • Phương pháp luận: Luận án lấy chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn trọng, bảo đảm quyền sở hữu tài sản của công dân làm kim chỉ nam xuyên suốt.
  • Bản chất pháp lý: Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng được tiếp cận dưới bản chất kép: vừa là một giao dịch dân sự chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc tự do ý chí, tự định đoạt và thiện chí trong pháp luật dân sự; vừa là một thỏa thuận có tính chất nhân thân gắn liền với quan hệ hôn nhân gia đình hợp pháp, bị giới hạn bởi trật tự công cộng, thuần phong mỹ tục, nghĩa vụ bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình và quyền lợi của người thứ ba.
  • Khái niệm công cụ: Luận án tổng hợp các cách tiếp cận của học giả trong nước (Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Kim Dung, Lê Thị Thanh Trúc, Nguyễn Văn Cừ, Phạm Thị Linh Nhâm) để định hình khái niệm CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận: là chế độ tài sản xác lập bằng văn bản do hai bên cùng thỏa thuận lập trước khi kết hôn theo thể thức luật định nhằm điều chỉnh quan hệ sở hữu, quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của vợ chồng phát sinh trong thời kỳ hôn nhân.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính truyền thống của khoa học pháp lý và phương pháp điều tra xã hội học thực nghiệm:

  • Phương pháp phân tích và bình luận: Sử dụng để giải mã các khái niệm lý luận, phân tích các điều luật thực định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng trên bình diện cả nước.
  • Phương pháp so sánh: So sánh lịch sử pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn (thời kỳ phong kiến, pháp thuộc, giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, các Luật năm 1959, 1986, 2000 đến năm 2014); so sánh pháp luật của Việt Nam với các hệ thống pháp luật nước ngoài (Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Australia, Canada, Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc).
  • Phương pháp phân tích tình huống: Phân tích các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp tài sản của Tòa án và các vụ việc thực tế tại cơ quan công chứng nhằm đánh giá bất cập thực tế.
  • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Thu thập ý kiến, đánh giá của các chuyên gia pháp lý, thẩm phán, công chứng viên trong quá trình xây dựng giả thuyết, củng cố luận cứ và đánh giá giải pháp.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Luận án xây dựng phiếu khảo sát và tiến hành điều tra online nhằm thu thập số liệu, đánh giá nhận thức xã hội và thực trạng áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận. Đây là điểm mới về phương pháp so với các nghiên cứu trước đây trong cùng lĩnh vực.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, trọng tâm là Hiến pháp năm 2013, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định số 126/2014/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.
  • Văn bản pháp luật và án lệ của các quốc gia: Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Australia, Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc.
  • Số liệu thống kê các vụ án tranh chấp tài sản hôn nhân gia đình được giải quyết tại hệ thống Tòa án nhân dân trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022.
  • Dữ liệu thu thập từ các phiếu điều tra khảo sát online và biên bản phỏng vấn chuyên gia do nghiên cứu sinh trực tiếp thực hiện.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

Chương này tập trung làm rõ bản chất học thuật và nguồn gốc hình thành của chế định:

  • Xây dựng khái niệm và đặc điểm: Phân tích các yếu tố cấu thành chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận: hình thức văn bản, thời điểm lập, mục đích điều chỉnh tài sản trong thời kỳ hôn nhân; chỉ rõ tính chất đề cao quyền tự định đoạt cá nhân nhưng không tách rời nghĩa vụ gia đình.
  • Ý nghĩa kinh tế - xã hội: Khẳng định vai trò của chế định trong việc thúc đẩy sự minh bạch tài chính, tạo điều kiện cho các bên tham gia hoạt động kinh doanh đầu tư, giảm thiểu tranh chấp khi ly hôn hoặc khi một bên qua đời.
  • Cơ sở lý luận và thực tiễn của Luật năm 2014: Phân tích các luận cứ lý luận và bối cảnh thực tiễn của Việt Nam dẫn đến việc tái lập chế định này trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 sau thời gian dài vắng bóng từ năm 1959.
  • Lịch sử lập pháp: Khảo cứu quá trình lập pháp tại Việt Nam qua các thời kỳ: thời phong kiến, thời Pháp thuộc (với sự hiện diện của "hôn khế"); giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám năm 1945; quy định tại miền Nam trước năm 1975 (Luật Gia đình năm 1959, Sắc luật số 15/64 và Bộ luật Dân sự năm 1972 cho phép lập hôn ước trước kết hôn và công bố trên phương tiện truyền thông); việc áp dụng chế độ luật định duy nhất qua các Luật năm 1959, 1986, 2000; từ đó dự báo xu hướng hoàn thiện trong tương lai.

Chương 2: Thực trạng pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

Chương này đi sâu vào 5 nhóm nội dung pháp lý thực định:

  • Nguyên tắc chung: Phân tích nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận; nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng; nguyên tắc bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình (Điều 30 Luật năm 2014) và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình (với cơ chế người đứng tên chủ tài khoản giao dịch theo pháp luật dân sự).
  • Thời điểm xác lập thỏa thuận: Phân tích quy định bắt buộc lập trước khi kết hôn tại Điều 47 Luật năm 2014. Tác giả đối chiếu với Phần VIIIA Đạo luật Gia đình Australia (cho phép lập thỏa thuận tài chính ở mọi thời điểm: trước, trong và sau hôn nhân). Từ đó, đánh giá thực trạng các văn bản cam kết, thỏa thuận tài sản riêng lập trong thời kỳ hôn nhân hoặc thỏa thuận phân chia tài sản sau ly hôn tại Việt Nam – những trường hợp thực tế đang bị coi là các "biến tướng" pháp lý dẫn đến đường lối xét xử thiếu thống nhất.
  • Hình thức của văn bản thỏa thuận: Phân tích yêu cầu bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực theo Điều 47 Luật năm 2014. Luận án đặt ra xung đột pháp lý với Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015: Điều 129 cho phép Tòa án công nhận giao dịch vi phạm hình thức nếu một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ, tuy nhiên trong quan hệ hôn nhân, nghĩa vụ tài sản kéo dài và giá trị tài sản hình thành trong tương lai là không xác định trước, khiến việc áp dụng định lượng 2/3 là bất khả thi.
  • Nội dung và việc sửa đổi, bổ sung thỏa thuận: Phân tích các quy định tại Điều 48 Luật năm 2014. Về sửa đổi, bổ sung, pháp luật Việt Nam cho phép vợ chồng tự do sửa đổi bất kỳ lúc nào mà không giới hạn căn cứ. Luận án đối chiếu với quy định khắt khe của Thái Lan (Điều 1466 yêu cầu phải có phán quyết Tòa án cho phép và ghi vào Sổ đăng ký kết hôn) và Nhật Bản (chỉ cho phép Tòa án gia đình can thiệp khi có hành vi phá tán tài sản). Tác giả cũng chỉ ra bất cập tại Điều 16 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP khi buộc vợ chồng phải thông báo thông tin về chế độ tài sản thỏa thuận cho bên thứ ba trong mọi giao dịch, kể cả các giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu nhỏ lẻ.
  • Thỏa thuận vô hiệu và chấm dứt chế độ: Đánh giá các căn cứ vô hiệu tại Điều 50 Luật năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP. Luận án phân tích khoảng trống khi thiếu quy định xử lý hiệu lực thỏa thuận trong trường hợp Tòa án ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Điều 12 Luật năm 2014; trường hợp kết hôn có vi phạm điều kiện ban đầu nhưng sau đó được công nhận quan hệ hôn nhân; đồng thời phân tích sự mơ hồ của khái niệm "vi phạm nghiêm trọng" quyền được cấp dưỡng, quyền thừa kế của các thành viên gia đình.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

Chương này đánh giá việc thi hành luật và đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Đánh giá thực tiễn thi hành: Phân tích bức tranh thực tiễn thông qua việc tổng hợp, thống kê số liệu các vụ án tranh chấp tài sản giữa vợ và chồng được thụ lý, giải quyết tại hệ thống Tòa án từ năm 2018 đến năm 2022. Hầu hết các vụ án phân chia tài sản trên thực tế đều áp dụng chế độ tài sản theo luật định; các vụ việc có áp dụng chế độ thỏa thuận lập trước khi kết hôn là vô cùng hy hữu.
  • Kết quả điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên gia: Trình bày kết quả khảo sát bằng phiếu điều tra online và kết quả phỏng vấn sâu các chuyên gia, thẩm phán, công chứng viên. Kết quả chỉ ra các nguyên nhân chính khiến chế định này ít đi vào đời sống: rào cản tâm lý văn hóa Á Đông (coi việc phân định tài sản trước kết hôn làm tổn thương tình cảm gia đình), sự phức tạp và thiếu rõ ràng trong thủ tục công chứng, tâm lý e ngại rủi ro pháp lý của các bên và sự thiếu linh hoạt của quy định về thời điểm xác lập.
  • Các nhóm giải pháp hoàn thiện: Đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành; hoàn thiện cơ chế công chứng văn bản thỏa thuận; hoàn thiện quy định về bảo vệ người thứ ba; và các biện pháp tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 4 đóng góp mới về mặt khoa học pháp lý:

  1. Về lý luận: Làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận (khái niệm, đặc điểm, bản chất pháp lý, ý nghĩa kinh tế - xã hội) từ góc độ nguồn cội học thuyết và quyền tự do ý chí cá nhân trong quan hệ dân sự, không đơn thuần diễn giải điều luật có sẵn.
  2. Về lập pháp so sánh: Phân tích toàn diện các nội dung cơ bản của chế định theo Luật năm 2014 (nguyên tắc áp dụng, nội dung, thời điểm phát sinh hiệu lực, sửa đổi bổ sung, vô hiệu) trên cơ sở đối chiếu với pháp luật của các quốc gia như Pháp, Hoa Kỳ, Australia, Thái Lan... và lịch sử lập pháp Việt Nam, nhằm phục vụ quá trình hài hòa hóa pháp luật và hội nhập quốc tế.
  3. Về thực tiễn xã hội học: Luận án không chỉ dừng lại ở phân tích quy phạm mà phản ánh thực trạng áp dụng thông qua kết quả điều tra xã hội học (phiếu khảo sát online) và phỏng vấn chuyên gia; chỉ rõ các nguyên nhân kinh tế, xã hội, văn hóa và lỗ hổng lập pháp kìm hãm sự phổ biến của chế định này.
  4. Về giải pháp: Chỉ rõ các lỗ hổng lập pháp và đề xuất hệ thống kiến nghị, giải pháp cụ thể giúp các nhà lập pháp hoàn thiện quy định thực định, đồng thời nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử và công chứng.

Các kiến nghị cụ thể được đề xuất trong văn bản:

  • Cần nghiên cứu sửa đổi quy định về thời điểm thỏa thuận theo hướng mở rộng cho phép vợ chồng xác lập thỏa thuận trong thời kỳ hôn nhân thay vì giới hạn duy nhất trước khi kết hôn như Điều 47 hiện nay.
  • Cần có quy định chuyên biệt điều chỉnh hậu quả pháp lý khi thỏa thuận vi phạm điều kiện hình thức công chứng, chứng thực, loại trừ sự dẫn chiếu thiếu khả thi đến quy định "thực hiện 2/3 nghĩa vụ" tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Sửa đổi Điều 16 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP theo hướng miễn trừ nghĩa vụ cung cấp thông tin về chế độ tài sản thỏa thuận đối với các giao dịch thông thường nhằm bảo đảm nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình.
  • Bổ sung quy định rõ ràng về căn cứ vô hiệu của thỏa thuận trong trường hợp việc kết hôn bị hủy do trái pháp luật; quy định cụ thể thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận khi việc kết hôn vi phạm điều kiện ban đầu nhưng sau đó được công nhận quan hệ hôn nhân; cụ thể hóa tiêu chí "vi phạm nghiêm trọng" quyền cấp dưỡng và thừa kế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án phản ánh các giới hạn nghiên cứu xuất phát từ phạm vi đề tài:

  • Dữ liệu án lệ và thống kê thực tiễn tranh chấp tại Tòa án được giới hạn trong mốc thời gian từ năm 2018 đến năm 2022.
  • Do số lượng các cặp vợ chồng trên thực tế lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận rất ít, các tình huống phân tích trong luận án chủ yếu dựa trên các thỏa thuận cam kết tài sản riêng phát sinh trong thời kỳ hôn nhân hoặc các vụ án chia tài sản theo luật định có yếu tố thỏa thuận, chưa có tập mẫu án lệ phong phú về tranh chấp thỏa thuận lập trước kết hôn.
  • Khảo sát thực nghiệm được tiến hành thông qua hình thức phiếu điều tra online và phỏng vấn chuyên gia với dung lượng mẫu nhất định.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ văn bản là việc tiếp tục nghiên cứu cơ chế công chứng, đăng ký công khai tài sản hôn ước để bảo vệ bên thứ ba; nghiên cứu sự tương thích giữa chế độ tài sản thỏa thuận với các giao dịch tài sản mới phát sinh trong nền kinh tế thị trường và các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và nghiên cứu chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn để sửa đổi, hoàn thiện Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 cùng các văn bản hướng dẫn; tháo gỡ điểm nghẽn về thời điểm xác lập, điều kiện hình thức và căn cứ vô hiệu.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện Kiểm sát): Cung cấp các phân tích tình huống thực tế và định hướng áp dụng pháp luật khi thụ lý, giải quyết các vụ án chia tài sản có tồn tại văn bản cam kết, thỏa thuận tài sản riêng hoặc thỏa thuận phân chia sau ly hôn.
  • Tổ chức hành nghề công chứng và Luật sư: Tham khảo các nội dung pháp lý liên quan đến soạn thảo, công chứng nội dung thỏa thuận; điều kiện sửa đổi, bổ sung; và trách nhiệm tư vấn độc lập nhằm bảo đảm tính hiệu lực của thỏa thuận.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Cung cấp hệ thống tài liệu tổng quan toàn diện về chế định tài sản hôn nhân thỏa thuận tại Việt Nam và các quốc gia trên thế giới, cùng mô hình kết hợp phương pháp luật học truyền thống với khảo sát xã hội học online.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao việc áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 để công nhận hiệu lực thỏa thuận tài sản vợ chồng vi phạm hình thức lại gặp bế tắc trên thực tế?

Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định giao dịch dân sự vi phạm điều kiện bắt buộc về công chứng, chứng thực có thể được Tòa án công nhận hiệu lực nếu một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch. Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân là một trạng thái pháp lý không xác định trước thời hạn kết thúc và khối tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân cũng không thể định lượng trước. Do đó, việc xác định thế nào là đã hoàn thành "2/3 nghĩa vụ" trong một thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng là điều gần như không thể thực hiện được trên thực tế.

2. Thời điểm xác lập thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam có điểm gì khác biệt so với Australia?

Theo Điều 47 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 của Việt Nam, hai bên nam nữ chỉ được lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận khi văn bản này được lập trước khi kết hôn. Trong khi đó, theo Phần VIIIA của Đạo luật Gia đình Australia năm 1975 (sửa đổi năm 2000, Điều 90B và 90C), các bên có quyền xác lập thỏa thuận tài sản mang tính bắt buộc (Financial agreements) ở bất kỳ thời điểm nào: trước hôn nhân, trong thời kỳ hôn nhân (bao gồm cả khi ly thân) và sau khi ly hôn.

3. Quy định về sửa đổi, bổ sung thỏa thuận tài sản của vợ chồng ở Việt Nam khác với Thái Lan và Nhật Bản như thế nào?

Pháp luật Việt Nam cho phép vợ chồng tự do sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung thỏa thuận bất cứ lúc nào trong thời kỳ hôn nhân mà không bị giới hạn về lý do hay điều kiện. Trái lại, pháp luật Thái Lan (Điều 1466 Bộ luật Dân sự và Thương mại) quy định bản thỏa thuận trước kết hôn không thể bị sửa đổi trừ khi có quyết định cho phép của Tòa án và phải ghi vào Sổ đăng ký kết hôn. Pháp luật Nhật Bản cũng nghiêm cấm thay đổi hôn ước trong thời kỳ hôn nhân, ngoại trừ trường hợp một bên quản lý có hành vi phá tán tài sản và việc thay đổi phải do Tòa án gia đình ra phán quyết.

4. Pháp luật xử lý ra sao đối với hiệu lực của thỏa thuận tài sản khi việc kết hôn bị Tòa án tuyên hủy do trái pháp luật?

Vấn đề này hiện đang là một khoảng trống lập pháp tại Việt Nam. Về mặt nguyên tắc, chế độ tài sản của vợ chồng chỉ phát sinh và tồn tại gắn liền với quan hệ hôn nhân hợp pháp; khi Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, hai bên phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng và không phát sinh quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên, Luật năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP chưa có điều khoản minh định việc hủy kết hôn trái pháp luật có đương nhiên làm thỏa thuận tài sản xác lập trước đó bị vô hiệu hay không.

5. Thực trạng lựa chọn chế độ tài sản thỏa thuận tại Việt Nam và một số nước diễn biến như thế nào theo tài liệu trong luận án?

Tại Việt Nam, số lượng cặp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận là rất ít; hầu hết tranh chấp tại Tòa án giai đoạn 2018 - 2022 đều áp dụng chế độ luật định. Tại Trung Quốc, khảo sát của Cheng Yingqi (2011) cho thấy dưới 5% cặp vợ chồng ở các đô thị cấp một ký thỏa thuận trước kết hôn và gần 90% người chưa kết hôn không đồng tình với ý tưởng này. Tại Pháp, nghiên cứu của Nicolas Prémeaux và Marion Leturcq chỉ ra tỷ lệ ký thỏa thuận là 40% vào năm 1855, giảm xuống dưới 10% sau cải cách năm 1965, và phục hồi lên mức 18% vào năm 2010.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật Việt Nam" là công trình nghiên cứu chuyên sâu về chế định tài sản ước định sau khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực. Bằng việc kết hợp nghiên cứu lý luận, rà soát lịch sử lập pháp, đối chiếu so sánh quốc tế và phân tích thực nghiệm thông qua điều tra xã hội học, luận án đã làm rõ thực trạng áp dụng còn nhiều hạn chế của chế định này tại Việt Nam. Các phân tích về xung đột pháp luật, khoảng trống vô hiệu và hệ thống giải pháp đề xuất trong luận án tạo cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật dân sự trong thời gian tới.