Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận Chương 2: Thực trạng pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận. 8 PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài - Anne Sanders, “Private autonomy and marital property agreements”1, The International and Comparative Law Quarterly, Vol.
Sau phán quyết của Toà phúc thẩm trong vụ RAdmacher v Granatino, câu hỏi được đặt ra liệu luật pháp của Anh có nên đưa ra các thoả thuận tài sản tiền hôn nhân? Bài viết lập luận ủng hộ việc đưa ra các thoả thuận tiền hôn nhân. Thông qua cách tiếp cận so sánh, bài viết giải thích cách các thoả thuận tiền hôn nhân được sử dụng ở Đức và chứng minh xuất phát từ quyền tự chủ cá nhân được coi là cơ sở của các thoả thuận tiền hôn nhân từ thế kỷ thứ XIX2. Bài viết còn đưa ra những lợi ích của các thỏa thuận và thảo luận về việc liệu các thỏa thuận tiền hôn nhân có vi phạm các chính sách công hay không.Debele and Susan C.Rhode, “Prenuptial Agreement in the United States”, tại https://www.com/media/1169/prenuptial_agreements_in_the_us. Bài viết nghiên cứu một cách tổng quan, cơ bản về một số vấn đề pháp luật Mỹ đối với CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận (hay còn gọi là chế độ hôn ước).
Theo đó, trong lịch sử pháp luật của Hoa Kỳ, chế độ hôn ước từng không được Tòa án công nhận bởi tòa án xem các hôn ước này như là một thỏa thuận ly hôn, vì vậy việc lập các hôn ước vô tình đã khuyến khích các cặp vợ chồng ly hôn. Tuy nhiên, theo xu hướng phát triển, sự giao thoa giữa các nền văn hoá, pháp luật về chế độ hôn ước đã thay đổi nhanh chóng và phức tạp hơn. Ngày nay, chế độ hôn ước đang ngày càng phổ biến mạnh mẽ ở nước Mỹ. Nếu như trong quá khứ, hầu hết mọi người lập hôn ước khi một người đàn ông giàu có kết hôn với một người phụ nữ trẻ nhưng kém giàu có hơn, thì ở thời điểm hiện tại, độ tuổi trung bình theo đuổi chế độ hôn ước đã giảm xuống do nhiều nam giới 9 và nữ giới đã gây dựng sự nghiệp, và tích lũy được tài sản và thu nhập ngay từ khi còn rất trẻ, do đó họ có nhu cầu muốn bảo vệ khối tài sản của mình khi ly hôn hoặc khi chết.
Ngoài ra, bài viết còn cung cấp khái quát về các yêu cầu đối với hôn ước cũng như việc lựa chọn pháp luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp hay khi xem xét tính có hiệu lực của hôn ước có yếu tố nước ngoài. Việc áp dụng pháp luật và các thủ tục nước ngoài đối với các thỏa thuận đến phạm vi nào là do các bang tự quyết định. - Nicolas Prémeaux, Marion Leturcq, “Prenuptial agreements and matrimonial property regimes in France 1855-2010”, Exploration in Economic History, 11/2017. Bài viết nghiên cứu về thỏa thuận tiền hôn nhân cũng như CĐTS trong hôn nhân ở Pháp trong giai đoạn từ 1855 – 2010.
Trước hết, tác giả trình bày tiến trình phát triển của thỏa thuận tiền hôn nhân từ 1855 – 2010, theo đó khoảng 40% các cặp vợ chồng mới cưới đã ký thỏa thuận tiền hôn nhân vào năm 1855, nhưng tỷ lệ này giảm xuống còn ít hơn 10% sau khi cải cách CĐTS trong hôn nhân vào năm 1965. Nó đã trải qua một sự trỗi dậy sau khi áp dụng ly hôn không có lỗi vào năm 1975 và khoảng 18% các cặp vợ chồng mới cưới đã ký một thỏa thuận chung vào năm 2010. Đồng thời bài viết chỉ ra ba nguyên nhân chính về tiến trình phát triển: Thứ nhất, là do sự khác biệt về văn hóa giữa các vùng miền; Thứ hai, là do mối quan hệ giữa tiến trình phát triển của thỏa thuận tiền hôn nhân với tiến trình phát triển của của hồi môn và; Thứ ba là do sự gia tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản. Ở Pháp, khi một cặp đôi kết hôn, họ có thể thỏa thuận tiền hôn nhân hoặc không.
Các thỏa thuận tiền hôn nhân sẽ xác định quyền tài sản của mỗi người trong tài sản của vợ chồng, trong đó bao gồm 4 thông tin: CĐTS trong hôn nhân, danh mục tài sản của vợ và của chồng, khoản thanh toán từ của hồi môn nếu có và các điều khoản về nguyên tắc áp dụng đối với tài sản gia đình nếu một người vợ hoặc chồng chết, và phải được ký kết ở văn phòng công chứng. Nếu không thỏa thuận, các 10 cặp vợ chồng sẽ áp dụng CĐTS trong hôn nhân mặc định. Từ bộ luật Dân sự 1804 đến cuộc cải cách về CĐTS trong hôn nhân năm 1965, các thỏa thuận tiền hôn nhân đã được sử dụng để hạn chế khả năng quản lý tài sản chung của người chồng. Chế độ mặc định về tài sản chung của vợ chồng đều coi hầu hết tài sản là tài sản chung, do đó đã tạo ra sự mất cân bằng lớn giữa vợ và chồng.
Bởi lẽ người chồng có thể quản lý và thậm chí là bán tài sản chung mà không cần có sự chấp thuận của người vợ, đồng thời còn có quyền quản lý cả tài sản riêng của mình và của vợ. Trái lại, người vợ cần phải có sự đồng ý của chồng mới có thể đem bán những tài sản riêng của mình. Ngoài ra, thỏa thuận tiền hôn nhân còn ảnh hưởng đến các quy định về quyền thừa kế. Cho đến cuối thế kỉ XIX, người vợ (chồng) còn sống không được xếp vào hàng thừa kế của người chồng (vợ) đã qua đời.
Các thỏa thuận này đã cho phép bao gồm cả những điều khoản bảo vệ lợi ích cho người vợ (chồng) còn sống – được quyền hưởng tài sản của người chồng (vợ) đã chết theo những tỷ lệ khác nhau ở những thời gian khác nhau. - Bài viết: “Prenuptial Agreement in China” truy cập tại https://www.com/prenuptial-agreements-in-china, bài viết trình bày về một số quy định về thỏa thuận tiền hôn nhân ở Trung Quốc, theo Điều 19 Luật hôn nhân 2001 quy định: “Cho đến khi tài sản được tạo ra trong thời gian ký hợp đồng về hôn nhân và các tài sản tiền hôn nhân được công nhận, vợ chồng có thể thỏa thuận liệu họ nên sở hữu riêng, sở hữu chung hay sở hữu riêng một phần và sở hữu chung một phần. Thỏa thuận phải được lập thành văn bản. Các quy định trong Điều 17 và Điều 18 của Luật này được áp dụng cho các trường hợp không có thỏa thuận đó hoặc với một điều khoản không rõ ràng.
Thỏa thuận về tài sản có được trong thời gian hợp đồng hôn nhân và tài sản tiền hôn nhân có giá trị ràng buộc cả hai bên. Nếu người chồng và vợ đồng ý, mà có bên thứ ba đã biết về việc sở hữu riêng tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, thì nghĩa vụ nợ của chồng hoặc vợ với bất kỳ người nào khác, sẽ phải được trả hết bằng tài sản riêng của anh ấy hoặc cô ấy”. Năm 2003, Tòa án Tối cao Trung Quốc đã quy định những loại tài sản được coi là đối tượng của 11 các thỏa thuận tiền hôn nhân bao gồm thu nhập từ các khoản đầu tư của một bên, trợ cấp nhà ở, bảo hiểm, trợ cấp thất nghiệp và các khoản thu nhập từ quyền sở hữu trí tuệ. - Cheng Yingqi, 2011, Survey: Chinese reluctant about prenups, Chinadaily, truy cập tại https://www.cn/china/2011-05/12/content_12493357.
Khảo sát thống kê tỷ lệ các cặp vợ chồng ở Trung Quốc áp dụng CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận trước khi kết hôn và tỷ lệ số cho thấy dưới 5% các cặp vợ chồng ở các thành phố cấp một của Trung Quốc đã ký thỏa thuận trước khi kết hôn và gần 90% những người chưa kết hôn không thích ý tưởng thoả thuận về tài sản trước khi kết hôn. - Bài viết “Prenuptial Agreements in Japan” xem tại https://www.com/prenuptial_agreements_in_japan truy cập ngày 25/8/2021. Bài viết nghiên cứu vấn đề về thỏa thuận tiền hôn nhân tại Nhật Bản. Theo đó, những thỏa thuận tiền hôn nhân không quá phổ biến ở Nhật Bản hiện nay, bởi lẽ nó không phải là văn hóa của người Nhật.
Tuy vậy, Nhật Bản cũng đã công nhận về tính pháp lý của những thỏa thuận này. Đạo luật những nguyên tắc chung khi áp dụng luật đã cho phép các cặp vợ chồng kết hôn ở Nhật Bản được quyền lựa chọn chế độ luật hôn nhân sẽ chi phối cuộc hôn nhân của họ, với điều kiện đó là luật của quốc gia của vợ hoặc chồng, hoặc luật nơi họ thường trú, hoặc về bất động sản, được áp dụng luật về vị trí của bất động sản. Luật pháp Nhật Bản cũng công nhận hiệu lực của các thỏa thuận tiền hôn nhân được tạo ra theo quy định của luật nước ngoài và quy định điều khoản về việc đăng ký cho các thỏa thuận tiền hôn nhân nước ngoài ở Nhật Bản. Bộ luật dân sự Nhật Bản cũng bao gồm những quy định quan trọng cho phép thỏa thuận tiền hôn nhân.
- Robkun Rayanakorn,1990, “Women and the law in Thailand an Canada”, p. 6, Working Paper series Thai studies project Women in 12 development Consortium in Thailand Institutional linkage program funded by Canadian International Development Agency. Tác giả chỉ ra CĐTS của vợ chồng trước hết do bản thân vợ chồng lựa chọn, thỏa thuận, chỉ khi vợ chồng không có hoặc không thỏa thuận một CĐTS nào cho mình thì khi đó mới theo quy định CĐTS theo luật định. Cùng với đó, tác giả chỉ rõ điều kiện có hiệu lực của văn bản thỏa thuận tài sản của vợ chồng, theo đó, các thỏa thuận tiền hôn nhân không có giá trị nếu rơi vào một trong các trường hợp quy định tại Điều 1466 Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan.
Thêm vào đó, trong Bài viết, Robkun Rayanakorn, đã nêu lên một số vấn đề khác trong quy định của pháp luật Thái Lan về thỏa thuận CĐTS của vợ chồng như quy định về sửa đổi, bổ sung nội dung của văn bản thỏa thuận tài sản của vợ chồng, quy định về bảo vệ người thứ ba, quy định về việc hủy bỏ văn bản thỏa thuận…. Bài viết của tác giả Piazzalunga phân tích về ảnh hưởng của việc áp dụng các CĐTS của vợ chồng đối với các đầu tư trong thời kỳ hôn nhân, từ đó khuyến khích sử dụng CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận thay vì luật định để việc phân chia tài sản được công bằng hơn.