CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 1. Khái niệm về kế toán trách nhiệm Theo James R. Martin,“Kế toán trách nhiệm là một khái niệm cơ bản của hệ thống kế toán đo lường hiệu quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm.
Ý nghĩa cơ bản của nó là trong những tổ chức phân tán rộng lớn thì rất khó hoặc không thể quản lý như một bộ phận đơn lẻ, vì vậy họ phải tách hoặc chia thành nhiều bộ phận chịu trách nhiệm. Những bộ phận này là các trung tâm trách nhiệm về chi phí, doanh thu, lợi nhuận và đầu tư”. Kế toán trách nhiệm liên quan đến các khái niệm và công cụ mà các kế toán viên sử dụng để đo lường sự thực hiện của các cá nhân và các bộ phận nhằm thúc đẩy những nỗ lực hướng về mục tiêu chung của tổ chức (Hilton,1991) [10]. Kế toán trách nhiệm là nhận dạng các yếu tố tài chính trong một lĩnh vực hoạt động nhất định tạo thành chuỗi cá thể kiểm soát được thông qua người chịu trách nhiệm quản lý chuỗi các yếu tố tài chính này (Richard M.S Wilon và Wai Fong Chua, 1993) [11].
Kế toán trách nhiệm là một phương pháp kế toán thu thập các báo cáo các thông tin từ dự toán và thực tế về các “đầu vào” và “ đầu ra” của các trungtâm trách nhiệm.TS Đào Văn Tài) [5]. Qua các khái niệm trên có thể nhận thấy các ý kiến đều tập trung làm sáng tỏ những nội dung của kế toán trách nhiệm và có thể bổ sung cho nhau, có thể được đúc kết lại như sau: Kế toán trách nhiệm được hiểu là hệ thống thu thập, báo cáo các thông tin có thể kiểm soát về doanh thu và chi phí theo nhóm trách nhiệm, đo lường Luan van 8 và đánh giá thành quả các bộ phận trong doanh nghiệp thông qua sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn để hướng các bộ phận đến mục tiêu chung của doanh nghiệp. Các cấp quản lý sẽ phải chịu trách nhiệm về lĩnh vực hoạt động của mình, của thuộc cấp và tất cả các hoạt động khác thuộc trách nhiệm của họ. Vai trò của kế toán trách nhiệm a.
Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị Ngày nay, kế toán quản trị là bộ phận không thể tách rời của hệ thống kế toán doanh nghiệp. Ngoài thông tin kế toán tài chính cung cấp, các nhà quản lý vẫn đòi hỏi có thêm thông tin mang tính kiểm soát và dự báo, chẳng hạn như doanh thu và chi phí phân chia theo bộ phận. Như vậy, kế toán quản trị biểu hiện kế toán trách nhiệm của các nhà quản lý các cấp bên trong doanh nghiệp thông qua kế toán trách nhiệm, trong khi kế toán tài chính biểu hiện trách nhiệm của nhà quản trị cấp cao. Kế toán theo các trung tâm trách nhiệm là một công cụ để đánh giá và kiểm soát trong các công ty phân quyền, thông qua việc xác định các trung tâm trách nhiệm và nhiệm vụ báo cáo của công ty được phân quyền.
Đây là hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận (nhà quản trị bộ phận) trong một tổ chức có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc phạm vi quản lý của mình, họ phải xác định, đánh giá và báo cáo lên cấp trên trong tổ chức; thông qua đó các cấp quản lý cao hơn sử dụng các thông tin này để đánh giá thành qủa các bộ phận trong tổ chức. Tóm lại, kế toán trách nhiệm là một trong những nội dung quan trọng của kế toán quản trị. Kế toán trách nhiệm không chỉ đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn xác định đối tượng nào (ai) là người chịu trách nhiệm, bộ phận nào có Luan van 9 quyền kiểm soát đối với hoạt động xảy ra, trách nhiệm đó được thể hiện qua sơ đồ sau: Chức năng quản trị Quá trình kế toán Xác định mục tiêu Hình thành các chỉ tiêu kinh tế Xây dựng kế hoạch Xây dựng các bảng dự toán Tổ chức thực hiện Thu thập kết quả thực hiện Kiểm tra, đánh giá Lập các báo cáo thực hiện Sơ đồ 1. Mối quan hệ giữa chức năng quản trị và quá trình kế toán Kế toán trách nhiệm bao gồm 2 mặt: thông tin và trách nhiệm.
Tùy thuộc vào việc sử dụng 2 mặt này mà ảnh hưởng đến thái độ của người quản lý và hiệu quả của việc phân cấp trách nhiệm trong đơn vị (Huỳnh Lợi, Nguyễn Khắc Tâm, 2001)[3]. Khi hệ thống kế toán trách nhiệm nhấn mạnh đến mặt đánh giá trách nhiệm của người quản lý sẽ ảnh hưởng đến thái độ của người quản lý theo chiều hướng tiêu cực. Họ tìm cách che đậy sai phạm, cố đùn đẩy trách nhiệm chứ không chịu tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục những Luan van 10 tồn tại và như vậy, hệ thống kế toán trách nhiệm không hoàn thành mục tiêu đặt ra. Khi hệ thống kế toán trách nhiệm chú trọng đến mặt thông tin thì sẽ ảnh hưởng tích cực lên hành vi của nhà quản lý.
Việc nhấn mạnh đến việc cung cấp thông tin cho nhà quản lý để giúp họ nắm bắt được tình hình hoạt động của tổ chức, cũng như hiểu được nguyên nhân của việc hoạt động kém hiệu qủa sẽ tạo điều kiện nâng cao hiệu qủa hoạt động trong tương lai. Khi sử dụng đúng, hệ thống kế toán ít chú trọng đến trách nhiệm. Nếu các nhà quản lý cảm thấy rằng họ bị phê bình và khiển trách vì hiệu quả thực hiện công vệc của họ không tốt, họ thường có xu hướng đối phó theo cách không tích cực và có khi hoài nghi về hệ thống (Hilton, 1991)[10]. Do vậy, cần phải nhận thấy rằng hệ thống kế toán trách nhiệm đặt trọng tâm vào thông tin.
Việc sử dụng hệ thống kế toán trách nhiệm không quá nhấn mạnh đến việc quy trách nhiệm mà xem việc quy trách nhiệm là một yếu tố góp phần vào hiệu qủa thông tin của hệ thống. Kế toán trách nhiệm – một công cụ quan trọng và đắc lực nhất của hệ thống kiểm soát quản lý Hệ thống kiểm soát quản trị có 2 yếu tố hạt nhân: Thứ nhất là quá trình lập kế hoạch gồm ngân sách và các kế hoạch dài hạn. Quá trình này sử dụng để thiết lập các chỉ tiêu kế hoạch nhằm đánh giá quá trình thực hiện. Thứ hai là kế toán trách nhiệm mà chủ yếu là tạo ra các trung tâm trách nhiệm.
Trung tâm trách nhiệm chịu trách nhiệm tài chính và tác động hiệu quả của từng cá nhân trong tổ chức. Mục tiêu của kế toán trách nhiệm là ghi nhận chi phí và doanh thu trong từng trung tâm trách nhiệm để tính ra chênh lệch so với mục tiêu thực hiện (điển hình là dự toán) mà có thể quy trách Luan van 11 nhiệm cho từng cá nhân đứng đầu trung tâm trách nhiệm. Mỗi trung tâm trách nhiệm đều có tiến trình sau: Thiết lập mục tiêu Đo lường kết quả thực hiện So sánh kết quả thực hiện với mục tiêu và báo cáo Phân tích sự sai biệt (độ lệch) Đưa ra ảnh hưởng khi có sự sai biệt đáng kể giữa thực tế và kế hoạch Sơ đồ 1. Tiến trình của một trung tâm trách nhiệm Mục tiêu tài chính thực hiện của trung tâm lợi nhuận và đầu tư là những chỉ tiêu đặc trưng về lợi nhuận, tỉ lệ hoàn vốn đầu tư hoặc giá trị kinh tế tăng thêm trong khi mục tiêu của trung tâm chi phí được xác định là các chỉ tiêu về chi phí.
Kế toán trách nhiệm phải thực hiện đầy đủ các báo cáo thực hiện trong khoảng thời gian nào đó thường xuyên, trong báo cáo đó nhà quản trị phải tìm thấy sự sai lệch so với dự toán mà họ quản lý và đưa ra được những ảnh hưởng. Để xây dựng một hệ thống kiểm soát quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cần phải xác định các trung tâm trách nhiệm, cân nhắc giữa chi phí và lợi ích và đưa ra động lực để đạt được mục tiêu và những nỗ lực quản lý. Một trung tâm trách nhiệm là một hệ thống các hoạt động được phân cho một nhà quản lý, một nhóm quản lý và những nhân viên khác. Ví dụ, một hệ Luan van 12 thống máy móc và các công đoạn gia công có thể là một trung tâm trách nhiệm cho một tổ trưởng.
Toàn bộ phân xưởng có thể là một trung tâm trách nhiệm của quản đốc. Cuối cùng, toàn bộ doanh nghiệp là trung tâm trách nhiệm của giám đốc. PHÂN CẤP QUẢN LÝ – SỰ HÌNH THÀNH KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 1. Phân cấp quản lý là cơ sở của kế toán trách nhiệm a.
Khái niệm về phân cấp quản lý Phân cấp quản lý hay còn gọi là phân quyền được hiểu là sự phân chia quyền lực xuống cấp dưới, quyền ra quyết định không còn của một người hay một nhóm nhỏ mà trải rộng trên toàn tổ chức. Do vậy, các cấp quản lý khác nhau được quyền ra quyết định liên quan đến phạm vi trách nhiệm của họ. Các nhà quản lý cho rằng kế toán trách nhiệm gắn liền với sự phân cấp quản lý, hệ thống kế toán trách nhiệm hoạt động thực sự hiệuquảa trong các tổ chức mà sự phân quyền được thực hiện đúng mức và phù hợp với cơ cấu tổ chức. Phân cấp quản lý cao hay thấp sẽ quyết định hệ thống kế toán được tổ chức như thế nào: tập trung, phân tán hay vừa tập trung vừa phân tán.
Ý nghĩa của phân cấp quản lý trong doanh nghiệp Phân cấp quản lý phù hợp sẽ có ý nghĩa rất lớn trong quản lý của doanh nghiệp và được thể hiện như sau: - Sự phân cấp quản lý trải rộng quyền lực và trách nhiệm trên toàn tổ chức thì nhà quản lý cấp cao không phải giải quyết các vấn đề, sự việc chi tiết xảy ra hàng ngày mang tính tác nghiệp, họ tập trung vào hoạch định những chiến lược trung và dài hạn, điều phối các hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu chung. - Sự phân cấp quản lý còn giúp cho các nhà quản lý ở các cấp có sự tương đối trong điều hành công việc của mình, nâng cao kiến thức chuyên Luan van 13 môn, tăng khả năng ứng xử các tình huống để tăng tốc độ hoạt động của mỗi bộ phận, toàn tổ chức. Nhà quản trị ở các cấp đều có quyền ra quyết định ở các mức độ khác nhau và chịu trách nhiệm về công việc của mình nên thúc đẩy họ phát huy khả năng quản lý.