CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG” 1. Khái niệm tiền lương Theo quan niệm của Mác: Tiền lương là biểu hiện sống bằng tiền của giá trị sức lao động. Theo quan niệm của các nhà kinh tế học hiện đại: Tiền lương là giá cả của lao động, được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường lao động. “Tiền lương được hiểu là giá cả sức lao động khi thị trường lao động đang dần được hoàn thiện và sức lao động được trở thành hàng hóa.
Nó được hình thành do thỏa thuận hợp pháp giữa người lao động (người bán sức lao động) và người sử dụng lao động (người mua sức lao động). Tiền lương hay giá cả sức lao động chính là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo công việc, theo mức độ hoàn thành công việc đã thỏa thuận. Trong mỗi giai đoạn nhất định của lịch sử xã hội, giá cả lao động có thể thay đổi nó phụ thuộc vào quan hệ cung cầu sức lao động trên thị trường. Trong cơ chế thị trường có quản lý của Nhà nước tiền lương còn tuân theo quy luật phân phối theo lao động.
Các hình thức thức trả lương và tính lương trong doanh nghiệp 1. Trả lương theo thời gian Trả lương theo thời gian là một hình thức trả lương dựa vào số giờ làm việc hoặc số ngày làm việc thực tế. Thời gian này có thể tuân theo quy định của pháp luật hoặc dựa trên thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Công thức tính: Lương = Thời gian làm việc (giờ/ ngày/ tuần/ tháng) * Đơn giá lương theo thời gian Phân loại lương theo thời gian với các yếu tố: Tiền lương theo giờ.
Tiền lương theo ngày. Tiền lương theo tuần. Tiền lương theo tháng. Ví dụ: Bạn Hùng là một thợ xây dựng, Công ty xây dựng mà Hùng làm việc thường trả lương theo giờ làm việc.
Theo hợp đồng, Hùng được hứa nhận 150.000 VNĐ mỗi giờ làm việc. 2 Trong một tháng, Hùng đã làm việc tổng cộng 120 giờ. Lương của Hùng trong tháng sẽ là: 120 giờ x 150. Hoặc, Hùng làm việc theo ngày, công ty có thể trả lương theo số ngày làm việc thực tế trong tháng.
Mức lương mỗi ngày là 1. Nếu Hùng làm việc trong 15 ngày trong một tháng, lương của bạn trong tháng đó sẽ là: 15 ngày x 1. Trả lương theo sản phẩm Hình thức trả lương dựa vào sản phẩm là cách mà lương của người lao động được xác định dựa trên số lượng và chất lượng sản phẩm mà họ sản xuất hoặc hoàn thành trong một khoảng thời gian cố định. Trong trường hợp này, người sử dụng lao động đặt một tiêu chuẩn hoặc mục tiêu sản phẩm cho người lao động và xác định mức lương tương ứng cho mỗi sản phẩm.
Công thức tính lương: Lương = Số lượng sản phẩm * Đơn giá lương một sản phẩm Phân loại lương sản phẩm có thể được dựa theo các yếu tố sau: Lương theo sản phẩm trực tiếp: Đây là cách xác định lương dựa trên sản phẩm mà một cá nhân hoàn thành. Lương theo sản phẩm cho nhóm công nhân: Trong trường hợp này, lương được tính dựa trên sản phẩm mà một nhóm công nhân hoàn thành cùng nhau. Lương theo sản phẩm cho công nhân gián tiếp: Các công nhân gián tiếp, những người không sản xuất trực tiếp sản phẩm nhưng tham gia vào quá trình sản xuất. Lương theo sản phẩm kết hợp với chế độ tiền thưởng: Đôi khi, lương dựa trên sản phẩm có thể kết hợp với tiền thưởng dựa trên tiến độ làm việc nhanh hoặc chất lượng sản phẩm.
Ví dụ: Một công ty sản xuất giày thể thao đã áp dụng hình thức trả lương dựa vào sản phẩm cho các công nhân trực tiếp sản xuất giày. Mục tiêu sản phẩm của họ cho mỗi công nhân là hoàn thành 100 đôi giày trong một tuần. Mỗi đôi giày hoàn thành sẽ được trả 50. Công nhân A hoàn thành 120 đôi giày trong tuần đầu tiên của tháng.
Lương của công nhân A trong tuần đầu tiên sẽ là 120 x 50. Trả lương theo phương pháp 3P Lương 3P là cách trả lương dựa trên ba yếu tố: Trả lương theo vị trí công việc, ví dụ: giám đốc, quản đốc, công nhân trực tiếp sản xuất. Trả lương dựa vào trình độ chuyên môn như trình độ học vấn, khả năng đáp ứng các yêu cầu riêng của công ty. Trả lương dựa vào hiệu suất làm việc và kết quả hoàn thành công việc.
Ví dụ: Công ty XYZ quy định lương cho nhân viên hỗ trợ kỹ thuật theo 3 yếu tố như sau: Position (P1): 2.000 VNĐ Nhân viên hỗ trợ kỹ thuật C có vị trí công việc trung bình (Position), trình độ đại học (Person) và hoàn thành công việc xuất sắc trong tháng 7. Lương tháng 7 của nhân viên hỗ trợ kỹ thuật C sẽ là: 2. Trả lương theo doanh thu Hình thức trả lương dựa vào doanh thu là cách tính lương mà thu nhập của nhân viên phụ thuộc trực tiếp vào số tiền doanh thu mà họ tạo ra. Đây là một hình thức thúc đẩy nhân viên làm việc hiệu quả để tăng doanh số bán hàng hoặc doanh thu cho công ty.
Công thức tính Lương = Lương cơ bản + (Doanh thu x Tỷ lệ phần trăm) Lương theo doanh thu có thể được phân thành: Lương trả theo doanh số cá nhân. Lương trả theo doanh số nhóm. Lương trả thưởng kinh doanh. Ví dụ: Lan là một chuyên viên kinh doanh cho một công ty bất động sản.
Hợp đồng của bạn quy định rằng Lan sẽ nhận một lương cơ bản hàng tháng là 5.000 VNĐ và sẽ còn được thưởng một phần trăm (ví dụ: 3%) từ tổng giá trị bất động sản Lan đã bán trong tháng. Trong tháng, Lan đã bán một căn nhà với giá trị là 10 tỷ VNĐ. Lương của Lan trong tháng sẽ được tính như sau: 4 Lương = Lương cơ bản + (Doanh thu x Tỷ lệ phần trăm) Lương = 5. Vậy, Lan sẽ nhận được lương là 305.000 VNĐ trong tháng đó, dựa vào doanh thu mà bạn đã tạo ra.
Trả lương theo lương khoán Trả lương theo hình thức khoán là cách tính lương dựa vào khối lượng công việc, chất lượng và thời gian hoàn thành một dự án hoặc công việc tổng thể, thay vì trả lương theo từng chi tiết hoặc giai đoạn. Ví dụ: A là một nhà thầu xây dựng và A đã nhận một hợp đồng để sơn lại văn phòng của một công ty vào ngày 20. Hợp đồng quy định rằng A sẽ nhận được một khoản lương cố định là 5.000 VNĐ sau khi A hoàn thành công việc, bao gồm việc sơn tường và làm sạch văn phòng. Không quan trọng A phải sử dụng bao nhiêu lít sơn hay mất bao nhiêu giờ làm việc, mức lương 5.000 VNĐ sẽ được trả cho A khi công việc hoàn thành.
Đây là một ví dụ về cách trả lương theo hình thức khoán. Trả lương theo năng lực mỗi người Trả lương dựa trên năng lực là cách tính lương dựa vào khả năng và năng lực của người lao động để hoàn thành công việc. Công thức tính: Lương = Giá trị năng lực + Lương cơ bản Ví dụ: Một công ty công nghệ dựa trên năng lực phân tích dữ liệu của nhân viên để trả lương và công ty đã chia lương thành ba mức: Mức lương 8.000 VNĐ cho nhân viên có kiến thức cơ bản về phân tích dữ liệu và chưa có nhiều kinh nghiệm.000 VNĐ cho nhân viên có kiến thức nền tảng về phân tích dữ liệu, biết sử dụng các công cụ phân tích và có kinh nghiệm trong việc xử lý dữ liệu cơ bản.000 VNĐ cho nhân viên biết kiến thức nền tảng về phân tích dữ liệu, có kinh nghiệm trong việc phân tích dữ liệu phức tạp, xử lý dữ liệu lớn và có khả năng dự đoán xu hướng dựa trên dữ liệu. Quỹ lương và mức trích lập các quỹ BHXH, BHYT, BHTN Quỹ lương: “Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương của doanh nghiệp trả cho tất cả các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý và sử dụng, bao gồm các khoản sau:” “Tiền lương tính theo thời gian sản phẩm, thời gian, tiền lương công nhật, tiền lương khoán.” “Tiền lương trả cho người lao động chế tạo ra sản phẩm hỏng trong phạm vi quy định.” “Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan.” “Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian điều động công tác hoặc trong thời gian nghỉ phép, đi học theo chế độ quy định.” Tiền ăn trưa, tăng ca.
“Các loại phụ cấp thường xuyên (phụ cấp làm thêm giờ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm lâu năm,.” “Trong quan hệ với quá trình sản xuất kinh doanh, kế toán phân loại quỹ tiền lương của doanh nghiệp thành hai loại cơ bản:” Quỹ lương chính:“Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm nhiệm vụ chính đã được quy định, bao gồm tiền lương cấp bậc, các khoản phụ cấp thường xuyên và tiền thưởng trong sản xuất.” Quỹ lương phụ “là tiền lương phải trả cho người lao động trong thời gian không làm nhiệm vụ chính nhưng vẫn được hưởng lương theo chế độ quy định như tiền lương trả cho người lao động trong thời gian nghỉ phép, thời gian đi làm nghĩa vụ xã hội, hội họp, đi học, tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngưng sản xuất.” Mức“trích lập các quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ:” Quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH):“là quỹ dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng góp các quỹ trong các trường hợp bị suy giảm khả năng lao động như ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động,…” 6 “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp được một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp biến cố làm suy giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cach hình thành một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội.” “Ở Việt Nam hiện nay mọi người lao động có tham gia đóng BHXH đều có quyền hưởng BHXH. Đóng BHXH là tự nguyện hay bắt buộc là tùy thuộc vào từng đối tượng và để đảm bảo cho người lao động được hưởng chế độ BHXH thích hợp. Phương thức đóng BHXH dựa trên cơ sở mức lương quy định để đóng BHXH đối với người lao động. Nhà nước quy định doanh nghiệp phải trích lập bằng 25.