Đặt vấn đề Tiền lương là phần thu nhập của người lao động trên cơ sở số lượng và chất lượng lao động trong khi thực hiện công việc của bản thân người lao động theo cam kết giữa chủ doanh nghiệp với người lao động. Đối với doanh nghiệp thì tiền lương là một khoản chi phí sản xuất. Việc hạch toán tiền lương đối với doanh nghiệp phải thực hiện một cách chính xác, hợp lý. Tiền lương được trả với đúng thành quả lao động sẽ kích thích người lao động làm việc, tăng hiệu quả cho doanh nghiệp, thúc đẩy tinh thần hăng say làm việc, sáng tạo trong quá trình lao động.
Ngoài tiền lương chính mà người lao động được hưởng thì các khoản tiền thưởng, phụ cấp, BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ là các quỹ xã hội mà người lao động được hưởng, nó thể hiện sự quan tâm của xã hội, của doanh nghiệp đến từng thành viên trong doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp sản suất kinh doanh, tiền lương là một phần không nhỏ của chi phí sản xuất. Nếu doanh nghiệp vận dụng chế độ tiền lương hợp lý sẽ tạo động lực tăng năng suất lao động,…Tiền lương có vai trò tác dụng là đòn bẩy kinh tế tác động trực tiếp đến người lao động. Chi phí nhân công chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
Vì vậy doanh nghiệp cần phải tăng cường công tác quản lí lao động, công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương cần chính xác, kịp thời để đảm bảo quyền lợi của người lao động đồng thời tạo điều kiện tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí nhân công, đẩy mạnh hoạt động sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. 1 Đối với người lao động tiền lương có một ý nghĩa vô cùng quan trọng bới nó là nguồn thu nhập chủ yếu giúp cho họ đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình. Do đó tiền lương có thể là động lực thúc đẩy người lao động tăng năng suất lao động nếu họ được trả đúng theo sức lao động họ đóng góp, nhưng cũng có thể làm giảm năng suất lao động khiến cho quá trình sản xuất chậm lại, không đạt hiệu quả nếu tiền lương được trả thấp hơn sức lao động của người lao động bỏ ra. Ở phạm vi toàn bộ nền kinh tế, tiền lương là sự cụ thể hơn của quá trình phân phối của cải vật chất do chính người lao động làm ra.
Vì vậy, việc xây dựng tháng lương, bảng lương, lựa chọn các hình thức trả lương hợp lý để sao cho tiền lương vừa là khoản thu nhập để người lao động đảm bảo nhu cầu cả vật chất lẫn tính thần, đồng thời làm cho tiền lương trở thành động lực thúc đẩy người lao động làm việc tốt hơn, có tinh thần trách nhiệm hơn với công việc thực sự là việc làm cần thiết. Chính sách tiền lương được vận dụng linh hoạt ở mỗi doanh nghiệp phụ thuộc đặc điểm tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh và phụ thuộc tính chất hay loại hình kinh doanh của mỗi doanh nghiệp “Công ty TNHH một thành viên HT- VINA” với vai trò là một công ty TNHH vì thế công ty đã xây dựng được một cơ chế trả lương phù hợp, hạch toán đúng, đủ và thanh toán kịp thời. Nhận thức được tâm quan trọng của vấn đề trên tôi đã lựa chọn đề tài: “Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty TNHH một thành viên HT-VINA” làm đề tài viết khóa luận tốt nghiệp của mình. Thời gian thực tập và làm báo cáo thực tập tại “Công ty TNHH một thành viên HTVINA”, tôi đã có cơ hội và điều kiện được tìm hiểu và nghiên cứu về tình hình cơ bản, công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương của công ty.
2 Nó đã giúp tôi rất nhiều trong việc củng cố và mở mang hơn cho tôi những kiến thức tôi đã được học tại trường mà tôi chưa có điều kiện được áp dụng thực hành. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Tìm hiểu thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH một thành viên HT-VINA. Từ đó đưa ra một số giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty.
Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương của các phòng ban trong Công ty. - Phân tích đánh giá hạch toán tiền lương, các khoản trích theo lương tại Công ty. - Từ đó đưa ra một số giải pháp, đề xuất nhằm hoàn thiện công tác hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.
Đối tượng nghiên cứu Đối tương nghiên cứu của đề tài là tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH một thành viên HT-VINA 1. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu được nghiên cứu tại công ty TNHH một thành viên HT-VINA. - Phạm vi thời gian: + Thời gian thực tập: đề tài được thực hiện từ 3/9/2020 đến ngày 31/12/2020. + Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tháng 6 năm 2020.
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương của công ty TNHH một thành viên HT-VINA. Cụ thể là tìm hiểu 3 chính sách tiền lương, cách tính lương, trả lương và các khoản trích theo lương của Công ty, công tác hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương để từ đó đánh giá công tác hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương của Công ty. Kết quả nghiên cứu dự kiến - Phản ánh được tổng quát tình hình hoạt động của Công ty. - Thực trạng công tác kế toán tiền lương, các khoản trích theo lương tại công ty.
- Đưa ra các nhận xét về ưu điểm và nhược điểm của công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty. - Đưa ra một số đề xuất, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty. 4 PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm tiền lương Để tiến hành sản xuất kinh doanh cần phải có các yếu tố cơ bản: lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động.
Trong đó lao động là yếu tố chính có tính chất quyết định. Lao động không có giá trị riêng biệt mà lao động hoạt động tạo ra giá trị riêng biệt. Cái mà người ta mua bán không phải là lao động mà là sức lao động trở thành hàng hoá thì giá trị của nó được đó bằng lao động kết tinh trong một sản phẩm. Người lao động bán sức lao động và nhận được giá trị của sức lao động dưới hình thái là lương.
Vậy tiền lương là gì? Trên thực tế thì khái niện tiền lương lại khá đa dạng trên thế giới. Ở Pháp: "Sự trả công được hiểu là tiền lương hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiếu và mọi thứ lợi ích được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiên hay hiện vật mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động".com) Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): "Tiên lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận hay tên gọi như thế nào mà có biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”. 5 Còn riêng ở Việt Nam, hiện nay có sự phân biệt các yếu tố trong tổng thu nhập của người lao động từ công việc: Tiền lương, phụ cấp và phúc lợi. Theo quan điểm cải cách tiền lương năm 1993, tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành qua sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu về sức lao động trên thị trường quyết định và được trả cho năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc.
Theo Điều 90, Luật Lao động (sửa đổi) năm 2012 ghi rõ: “Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác". Văn kiện Đại hội XI của Đảng ghi: “Tiền lương, tiền công phải được coi là giá cả sức lao động, được hình thành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Từ những khái niệm trên ta có thể hiểu: “Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp trả cho người lao động theo thời gian, theo khối lượng công việc mà người lao động đã cống hiến cho doanh nghiệp”.
Ngoài khái niệm tiền lương còn có các khái niệm như tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế, tiền lương chính, tiền lương phụ. - Tiền lương danh nghĩa: là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động, thông qua hợp đồng thỏa thuận của hai bên và theo quy định của pháp luật. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc của người lao động ngay trong quá trình làm việc. - Tiền lương thực tế: Cùng một khối lượng tiền tệ nhưng ở những thời điểm khác nhau hay vùng địa lý khác nhau thì khối lượng hàng hóa hay dịch vụ mua 6 được cũng có thể khác nhau.
Như vậy Tiền lương thực tế là khối lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người lao động nhận được thông qua tiền lương danh nghĩa. Mối quan hệ giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế thể hiện qua công thức sau đây: ILDN ILTT = IG Trong đó: ILTT: Chỉ số lương thực tế LDN: Chỉ số lượng danh nghĩa IG Chỉ số giá - Tiền lương thực tế là sự quan tâm trực tiếp của người lao động, bởi vì đối với họ lợi ích và mục đích cuối cùng sau khi cung ứng sức lao động là tiền lương thực tế chứ không phải tiền lương danh nghĩa vì nó quyết định khả năng tái sản xuất sức lao động.