phần mở đầu và kết thúc còn được chia thành 3 phần: Phần I: Lý luận chung về tiền lương, hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Quảng cáo và thương mại Đức Minh. Báo cáo thực tập Luan van Trường CĐCN Thành Đô 2 Khoa KT Phần II: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Quảng cáo và thương mại Đức Minh. Phần III: Một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương của Công ty TNHH Quảng cáo và thương mại Đức Minh. Trong bài viết này không tránh khỏi một số sai sót nhất định, em rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của các thầy cô giáo, của các cô chú trong ban giám đốc Công ty.
Em xin chân thành cảm ơn! Báo cáo thực tập Luan van Trường CĐCN Thành Đô 3 Khoa KT DANH MỤC VIẾT TẮT BHXH: Bảo hiểm xã hội. BHYT: Bảo hiểm y tế. KPCĐ: Kinh phí công đoàn. TK: Tài khoản TNHH: Trách nhiệm hữu hạn.
CBCNV: Cán bộ công nhân viên. SXKD: Sản xuất kinh doanh. NSLĐ: Năng suất lao động QĐ: Quyết định. UBND: Ủy ban nhân dân.
Báo cáo thực tập Luan van Trường CĐCN Thành Đô 4 Khoa KT PHẦN I LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG, HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề chung về lao động, tiền lương. Lao động là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất: Tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao động. Lao động là nhân tố mang tính chất quyết định để tiến hành quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí về lao động là một trong các yếu tố chi phí cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Quản lý lao động là một vấn đề quan trọng trong công tác quản lý toàn diện các đơn vị sản xuất kinh doanh. Sử dụng hợp lý lao động là tiết kiệm chi phí về lao động sống, góp phần hạ thấp giá thành sản xuất, tăng doanh lợi cho doanh nghiệp và nâng cao đời sống cho người lao động trong doanh nghiệp. Để thực hiện tốt mục tiêu trên các doanh nghiệp cần phải chú ý đến hai vấn đề là sử dụng lao động và bồi dưỡng lao động.
Bản chất tiền lương, quỹ lương và các khoản trích theo lương. Bản chất tiền lương, các khoản trích theo lương. Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung Chủ nghĩa xã hội , tiền lương là một phần thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hình thức tiền tệ được Nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân viên chức, phù hợp với chất lượng và số lượng lao động cống hiến. Tiền lương phản ánh việc trả công cho cán bộ công nhân viên dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm tái sản xuất sức lao động.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa thì quan điểm về tiền lương đã thay đổi: “ Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả của các sức lao động mà người sử dụng phải trả tuân theo nguyên tắc cung cầu, giá cả thị trường và pháp luật hiện hành của Nhà nước”. Báo cáo thực tập Luan van Trường CĐCN Thành Đô 5 Khoa KT ở đây, lao động đã trở thành hàng hóa. Người có sức lao động tự do mua bán, cho thuê với doanh nghiệp, Nhà nước thông qua các hợp đồng lao động. Người lao động cung cấp tình độ, kỹ năng nghề nghệp, sức khỏe, thời gian để nhận lại từ người sử dụng lao động tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp.
Thông thường có hai loại tiền lương: _ Tiền lương danh nghĩa: Là số tiên lương lao động nhận được theo hợp đồng giữa người lao động và người sủ dụng lao động. _ Tiền lương thực tế: Là số lượng tư liệu sinh hoạt và dịch vụ mà người lao động có thể mua được bằng lương của mình sau khi đóng góp các khoản thuế theo quy định của Nhà nước. Chỉ số tiền lương thực tế tỷ lệ nghịch với chỉ số giá cả và tỷ lệ thuận với chỉ số tiền lương danh nghĩa tại thời điểm xác định. Về bản chất, có nhiều ý kiến khác nhau về tiền lương song trong cơ chế thị trường nói chung thì đều thống nhất coi sức lao động là hàng hóa.
Đây là yếu tố quyết định trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất nên tiền lương, tiền công, là vốn đầu tưu tương ứng quan trọng nhất, là giá cả sức lao động. Tiên lương vừa là công cụ quản lý, vừa là động lực thúc đẩy khuyến khích người lao động nâng cao hiệu quả và chất lượng công việc, gắn bó lợi ích của người lao động vào doanh nghiệp. Về phía doanh nghiệp, tiền lương là một khoản chi phí và được tính toán chi tiết trong hạch toán kinh doanh. Vậy có thể coi sức lao động là hàng hóa_ hàng hóa đặc biệt và tiền lương là giá cả của hàng hóa đặc biệt đó, là thu nhập chủ yếu của người lao động, là quyết định hành vi cung ứng lao động và là yếu tố tác động đến quyết định của các chủ doanh nghiệp để hình thành các thỏa thuận, hợp đồng thuê lao động.
Quỹ tiền lương, quỹ BHXH, quỹ BHYT, quỹ KPCĐ. Quỹ tiền lương là toàn bộ số tiền lương trả cho số CNV của doanh nghiệp do doanh nghiệp quản lý, sử dụng và chi trả lương. Quỹ tiền lương bao gồm: Báo cáo thực tập Luan van Trường CĐCN Thành Đô 6 Khoa KT _ Tiền lương thời gian, tiền lương tính theo sản phẩm và tiền lương khoán. _ Tiền lương trả cho người lao động sản xuất ra sản phẩm hỏng trong chế độ quy định.
_ Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan, trong thời gian điều động công tác làm nghỉ theo chế độ quy định, thời gian nghỉ phép, thời gian nghỉ học. _ Các lợi phụ cấp làm đêm, thêm giờ. _ Các khoản tiền thưởng có tính chất thường xuyên. _ Quỹ tiền lương kế hoạch trong doanh nghiệp còn được tính cả các khoản trợ cấp BHXH trong thời gian lao động ốm đau, thai sản, tai nạn lao động Quỹ tiền lương doanh nghiệp cần được quản lý , kiểm tra một cách chặt chẽ, quỹ lương thực tế phải thường xuyên đối chiếu với quỹ lương kế hoạch, kịp thời phát hiện các khoản bất hợp lý, đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động.
Để phục vụ cho công tác hạch toán tiền lương có thể chia làm hai loại: Tiền lương lao động trực tiếp và tiền lương lao động gián tiếp. Trong đó chi theo tiền lương chính và tiền lương phụ. + Tiên lương chính: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian người lao động thực hiện nhiệm vụ chính của họ gồm tiền lương trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo. + Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian họ thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính và thời gian lao động nghỉ phép, nghỉ lễ…được hưởng theo chế độ.
Trong công tác hạch toán kế toán tiền lương chính của công nhân sản xuất được hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất từng loại sản phẩm, tiền lương phụ của công nhân sản xuất được hạch toán và phân bổ gián tiếp vào chi phí sản xuất các loại sản phẩm có liên quan theo tiêu thức phân bổ thích hợp. Báo cáo thực tập Luan van Trường CĐCN Thành Đô 7 Khoa KT 1. Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp. Hình thức trả lương theo thời gian: Tiền lương trả cho người lao động tính theo thời gian làm việc, cấp bậc hoặc chức danh và thang lương theo quy định theo 2 cách: Lương thời gian giản đơn và lương thời gian có thưởng.
_ Tiền lương theo thời gian giản đơn được chia thành: + Lương tháng: Tiền lương trả cho người lao động theo thang bậc lương quy định gồm tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp. Lương tháng thường được áp dụng trả cho nhân viên làm công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế và các nhân viên thuộc các ngành hoạt động không có tính chất sản xuất. Tiền lương được lĩnh Mức lương Số ngày làm việc thực tế trong tháng = một ngày * trong tháng + Lương ngày: Được tính bằng cách lấy lương tháng chia cho số ngày làm việc theo chế độ. Lương ngày làm căn cứ để tính trợ cấp BHXH phải trả công nhân viên, tính trả lương cho công nhân viên trong những ngày hội họp, học tập, trả lương theo hợp đồng.
Mức lương tháng theo chức vụ + các khoản phụ cấp Mức lương ngày = Số ngày làm việc theo chế độ _ Tiền lương theo thời gian có thưởng: Là hình thức tiền lương theo thời gian giản đơn kết hợp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất. Báo cáo thực tập Luan van Trường CĐCN Thành Đô 8 Khoa KT Tiền lương thời Tiền lương theo thời Các khoản tiền thưởng gian có thưởng = gian giản đơn + tính chất thường xuyên 1. Hình thức trả lương theo sản phẩm. Hình thức trả lương theo sản phẩm là tiền lương trả cho người lao động được tính theo số lượng, chất lượng của sản phẩm hoàn thành hoặc khối lượng công việc đã làm xong được nghiệm thu.
Để tiến hành trả lương theo sản phẩm cần phải xây dựng được định mức lao động, đơn giá lương hợp lý trả cho từng loại sản phẩm, công việc được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, phải kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm chặt chẽ. _ Lương sản phẩm trực tiếp: Là hình thức tiền lương trả cho người lao động được tính theo số lượng, sản lượng hoàn thành đúng quy cách, phẩm chất và đơn giá lương sản phẩm. Tiền lương phải trả Số lượng sản phẩm Đơn giá tiền lương cho người lao động = hoàn thành * một đơn vị sảnphẩm _ Lương sản phẩm gián tiếp: Được áp dụng để trả lương cho công nhân làm các công việc phục vụ sản xuất ở các bộ phận sản xuất như: công nhân vận chuyển nguyên vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết bị. Trong trường hợp này căn cứ vào kết quả sản xuất lao động trực tiếp để tính lương cho lao động phục vụ sản xuất.
Tiền lương sản phẩm Số lượng sản phẩm hoàn Đơn giá tiền lương gián tiếp = thành của CNSX * sản phẩm gián tiếp Báo cáo thực tập Luan van Trường CĐCN Thành Đô 9 Khoa KT _ Lương sản phẩm có thưởng: Là kết hợp trả lương theo sản phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp và chế độ tiền thưởng trong sản xuất ( thưởng tiết kiệm vật tư, thưởng tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm ).