CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG - TIỀN LƯƠNG VÀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN VÀ THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP 1. Đặc điểm lao động của Công ty cổ phần tư vấn và thẩm định giá doanh nghiệp. *Quy mô và cơ cấu lao động. Công ty cổ phần tư vấn và thẩm định giá doanh nghiệp tổng cộng có 30 công nhân viên, bao gồm: - Ban giám đốc: 3 người - Phòng kế toán tài chính: 4 người - Phòng hành chính chung: 4 người - Phòng Marketing: 4 người - Bảo vệ: 1 người - Phòng chuyên môn (bao gồm: phòng thẩm định giá, phòng bán đấu giá và phòng giám định): 6 người - Còn lại là nhân viên các chi nhánh và văn phòng đại diện (8 người) Trong đó: + Trình độ đại học và trên đại học: 21 người (chiếm 70%) + Trình độ cao đẳng: 06 người (chiếm 20%).
+ Trình độ trung cấp: 03 người (chiếm 10%) * Phân loại lao động theo giới tính, độ tuổi và trình độ chuyên môn. - Phân loại lao động theo giới tính: Số lượng lao động Nam: 24 người (chiếm 70%) Số lượng lao động Nữ: 06 người (chiếm 30%) - Phân loại lao động theo độ tuổi: Từ 23 – 30 tuổi: 18 người Trần Thị Hậu 3 Lớp: KT13A.06 Chuyên đế thực tập GVHD: T.S Nguyễn Thị Minh Phương Nam: 14 người Nữ : 04 người Từ 30 – 40 tuổi: 10 người Nam: 08 người Nữ : 02 người Từ 40 – 55 tuổi: 02 người Nam: 02 người Nữ : 0 người Do đặc thù ngành Thẩm định giá nói chung đó là nam giới luôn chiếm đại đa số, nên có thể dễ dàng giải thích được rằng tại sao tại BCV.JSC số lượng lao động nam và nữ lại có tỷ lệ chênh nhau rõ ràng như vậy (lao động nam chiếm 70% tổng số lao động). Điều này không chỉ tổn tại ở trong BCV.JSC mà tồn tại ở hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh loại hình dịch vụ này. Xét về trình độ chuyên môn nhận thấy: Toàn bộ cán bộ công nhân viên trong BCV.JSC đều có trình độ, chuyên môn cao và được đào tạo qua trường lớp, được thể hiện: 90% cán bộ công nhân viên có bằng từ cao đẳng trở lên.
Điều này chứng tỏ khả năng thu hút lao động trẻ có trình độ và giữ người có tài của BCV.JSC là rất có hiệu quả. Mặt khác số người lao động ở độ tuổi dưới 40 tuổi lại chiếm tỷ trọng rất cao (xấp xỉ 93%). Điều này không chỉ phản ánh lợi thế về lực lượng lao động của BCV.JSC mà nó còn chứng tỏ một thế mạnh ở hiện tại và tiềm năng to lớn về hiệu quả kinh doanh của công ty trong tương lai. Việc phân loại lao động như trên nhằm cung cấp thông tin một cách cụ thể về lao động cho Ban Giám đốc kịp thời, giúp cho người quản lý có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, đảm bảo cho sự hoạt động chuyên nghiệp, thường xuyên liên tục của công ty.
Mặt khác, việc phân loại này còn giúp nhà quản trị Trần Thị Hậu 4 Lớp: KT13A.06 Chuyên đế thực tập GVHD: T.S Nguyễn Thị Minh Phương tính đến sự mở rộng và phát triển hơn nữa mạng lưới kinh doanh của Công ty. Chính vì vây, việc phân loại lao động không chỉ đòi hỏi phải là những hạch toán chính xác mà còn phải là những hạch toán sâu về những thay đổi của số lượng, cũng như chất lượng lao động nhằm tìm ra được những nguyên nhân gây thiếu hụt hay dư thừa, nhất thời hay lâu dài. để đưa ra kế hoạch bổ sung, thay thế kịp thời. Chỉ tiêu số lượng, cơ cấu lao động của công ty được phòng Hành chính chung (hay Văn phòng) theo dõi, ghi chép trên sổ danh sách lao động.
Căn cứ vào tổng số lao động của công ty, văn phòng lập sổ danh sách cho từng phòng ban, bộ phận, văn phòng đại diện. Mọi biến động về số cán bộ công nhân viên đều được theo dõi, ghi chép, quản lý trên sổ danh sách, các sổ này được dùng để làm căn cứ cho việc tính lương và các chế độ khác cho các cán bộ công nhân viên. Các hình thức trả lương của Công ty cổ phần tư vấn và thẩm định giá doanh nghiệp. Do tiền lương của người lao động được trả căn cứ vào thời gian, khối lượng và chất lượng công việc của từng người, nên việc tính và trả lương cho người lao động được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm, điều kiện sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Công ty cổ phần tư vấn và thẩm định giá doanh nghiệp có đặc điểm là kinh doanh dịch vụ, sản phẩm vô hình, do đó mà hình thức trả lương cơ bản cho người lao động được công ty áp dụng đó là hình thức trả lương theo thời gian. Hình thức trả lương theo thời gian được hiểu là hình thức tiền lương mà mức lương phụ thuộc vào lượng thời gian làm việc có tính đến trình độ lành nghề và chất lượng lao động của từng người lao động. Các căn cứ để trả lương theo thời gian của BCV.JSC đó là: Trần Thị Hậu 5 Lớp: KT13A.06 Chuyên đế thực tập GVHD: T.S Nguyễn Thị Minh Phương - Mức lương tối thiểu công ty quy định. - Hệ số lương theo chức vụ công ty quy định.
- Ngày công thực tế của người lao động. - Các khoản phụ cấp khác. Kỳ trả lương cho người lao động được công ty áp dụng đó là tháng, và tiền lương được trả vào ngày mùng 5 hàng tháng. Do hình thức trả lương theo thời gian có những hạn chế nhất định đó là: mang tính bình quân, chưa thực sự gắn với kết quả sản xuất.
nên để khắc phục phần nào hạn chế đó, ngoài việc trả lương theo thời gian BCV.JSC còn kết hợp với việc trả thêm tiền thưởng đối với những lao động có kết quả làm việc tốt để khuyến khích họ hăng hái làm việc. Chế độ trích lập, nộp và sử dụng các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần tư vấn và thẩm định giá doanh nghiệp. Quỹ tiền lương. Là toàn bộ số tiền lương trả cho tổng số công nhân viên của công ty, do công ty quản lý, sử dụng và chi trả lương.
Quỹ tiền lương của công ty bao gồm: - Tiền lương trả cho người lao động theo thời gian làm việc thực tế của họ và các khoản phụ cấp thường xuyên. - Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do những nguyên nhân khách quan hoặc thời gian nghỉ phép. - Các khoản phụ cấp thường xuyên như: phụ cấp ăn ca, phụ cấp công tác phí. Về phương diện hạch toán kế toán quỹ lương của công ty được chia thành: - Tiền lương chính: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian họ thực hiện nhiệm vụ chính, bao gồm tiền lương và các khoản phụ cấp.
Trần Thị Hậu 6 Lớp: KT13A.06 Chuyên đế thực tập GVHD: T.S Nguyễn Thị Minh Phương - Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian họ nghỉ phép, nghỉ lễ tết hoặc ngừng sản xuất được hưởng lương theo chế độ, tiền thưởng. Trong công tác hạch toán kế toán tiền lương chính của công nhân viên được hạch toán trực tiếp vào chi phí kinh doanh dịch vụ cụ thể. Tiền lương phụ của công nhân viên được hạch toán, phân bổ gián tiếp vào chi phí sản xuất có liên quan theo tiêu thức phân bổ thích hợp. Quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH).
Quỹ BHXH là khoản tiền được trích lập theo tỉ lệ quy định (26%) trên tổng quỹ lương thực tế phải trả cho toàn bộ cán bộ công nhân viên của công ty. Quỹ này nhằm giúp đỡ người lao động về mặt tinh thần và vật chất trong các trường hợp như: bị ốm đau, thai sản, tai nạn hay mất sức lao động… Quỹ BHXH được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả công nhân viên trong kỳ. Theo chế độ hiện hành hàng tháng công ty tiến hành trích lập quỹ BHXH (26%) trên tổng số tiền lương thực tế phải trả công nhân viên. Trong đó 18% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, 8% trừ vào lương của người lao động.
Quỹ BHXH được trích lập nhằm trợ cấp công nhân viên có tham gia đóng góp quỹ trong trường hợp họ bị mất khả năng lao động cụ thể như sau: - Trợ cấp công nhân viên ốm đau, thai sản. - Trợ cấp công nhân viên khi bị tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp. - Trợ cấp công nhân viên khi về hưu, mất sức lao động. - Chi công tác quản lý quỹ BHXH.
Theo chế độ hiện hành toàn bộ số BHXH trích lập được nộp lên cơ quan quản lý quỹ bảo hiểm để chi trả các trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động. Tại Công ty hàng tháng sẽ trực tiếp chi trả BHXH cho công Trần Thị Hậu 7 Lớp: KT13A.06 Chuyên đế thực tập GVHD: T.S Nguyễn Thị Minh Phương nhân viên bị ốm đau, thai sản…trên cơ sở các chứng từ hợp lý hợp lệ. Cuối tháng công ty phải thanh - quyết toán với cơ quan quản lý quỹ BHXH. Quỹ Bảo Hiểm Y Tế (BHYT).
Quỹ BHYT là khoản tiền được trích lập theo tỉ lệ quy định (4.5%) trên tổng quỹ lương thực tế phải trả cho toàn bộ cán bộ công nhân viên của công ty nhằm bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho người lao động. Cơ quan Bảo Hiểm sẽ thanh toán về chi phí khám chữa bệnh theo tỉ lệ nhất định mà nhà nước quy định cho những người đã tham gia đóng bảo hiểm. Theo chế độ hiện hành công ty trích quỹ BHYT theo tỷ lệ 4.5% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả công nhân viên trong tháng. Trong đó: 3% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, 1.5% trừ vào lương của người lao động.
Quỹ BHYT được trích lập để tài trợ cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ trong hoạt động khám - chữa bệnh. Toàn bộ quỹ BHYT được nộp lên cơ quan chuyên môn chuyên trách để quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng lưới y tế. Kinh phí công đoàn (KPCĐ). KPCĐ là khoản tiền được trích lập theo tỷ lệ là 2% trên tổng quỹ lương thực tế phải trả cho toàn bộ cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động.
Đồng thời duy trì hoạt của công đoàn tại doanh nghiệp. Theo chế độ hiện hành hàng tháng doanh nghiệp sẽ trích 2% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả công nhân viên trong tháng. Số trích lập được tính hết vào chi phí sản xuất kinh doanh.