CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI 1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế Nhà thầu nước ngoài 1. Khái niệm về thuế Nhà thầu nước ngoài Cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về thuế nhà thầu trong các hệ thống thuế của các nước trên thế giới.
Tuy nhiên, trong nhiều quy định và văn bản của các nước cũng đã đề cập đến định nghĩa này dưới nhiều hình thức và khía cạnh khác nhau, cụ thể như sau: Theo luật quản lý thuế của Australia năm 2012 (Taxation Administration Amendment Regulations 2012, No.1) thì thuế nhà thầu được coi là loại thuế đánh vào các khoản thanh toán cho các Nhà thầu nước ngoài (NTNN) theo hợp đồng cung cấp dịch vụ xây dựng. Còn theo khái niệm của Cơ quan thuế Hoa Kỳ IRS (Internal Revenue Services) thì thuế nhà thầu (trong tiếng Anh là “Foreign Contractors’ Tax – FCT”) được hiểu là số tiền thuế mà một quốc gia tác động vào khoản chi trả cho phía nhà thầu hay nhà thầu phụ và doanh nghiệp sẽ giữ lại khoản thuế đó khi thanh toán để nộp lại cho cơ quan thuế. Số tiền mà tổ chức chi trả giữ lại được thực hiện bởi nhiều cách khác nhau và nó phụ thuộc vào bản chất của hàng hóa dịch vụ được cung cấp. Như vậy, từ một số định nghĩa trên, ta có thể ghi nhận một số thông tin chính của thuế Nhà thầu như sau: - Là một khoản được giữ lại và được tính toán thông qua các hình thức thuế khác của quốc gia đó; - Được tính trên số tiền trả cho phía nước ngoài hoặc khoản thu nhập mà tổ chức, cá nhân đó nhận được khi hoạt động kinh doanh; và - Nộp trực tiếp hoặc tạm thu trước để nộp cho cơ quan thuế có thẩm quyền.
Theo thông tư 60/2012/TT-BTC về nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam, ta có thể khái quát Sinh viên: Vũ Phương Diệu Lớp KTI-K12 5 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG Khóa luận tốt nghiệp thành định nghĩa như sau: Thuế nhà thầu là loại thuế đánh vào Tổ chức nước ngoài và cá nhân nước ngoài kinh doanh là đối tượng thường trú tại Việt Nam hoặc không là đối tượng thường trú tại Việt Nam kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thoả thuận, hoặc cam kết giữa họ với tổ chức, cá nhân Việt Nam để thực hiện toàn bộ hay một phần công việc của Hợp đồng nhà thầu. Đặc điểm của thuế Nhà thầu nước ngoài Thuế NTNN không quy định là một loại luật thuế độc lập, mà mỗi quốc gia có các quy định về thuế nhà thầu dựa trên cơ sở tính thuế hay dựa trên cơ sở quy định của các luật thuế khác. Tại Việt Nam, thuế NTNN là tên gọi chung theo đối tượng nộp thuế của loại thuế đánh vào các tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam hoặc có phát sinh thu nhập trên lãnh thổ Việt Nam. Thuế NTNN bao gồm hai loại thuế: Thuế GTGT và thuế TNDN đối với Nhà thầu là tổ chức kinh doanh; thuế GTGT và thuế TNCN đối với Nhà thầu là các các nhân có phát sinh thu nhập tại Việt Nam.
Do đó, thuế NTNN mang những đặc trưng của các sắc thuế chi phối: Thứ nhất, thuế NTNN vừa mang tính chất của loại thuế trực thu vừa mang tính chất của loại thuế gián thu. Đối với thuế TNDN/TNCN, mặc dù Nhà thầu nước ngoài (NTNN), Nhà thầu phụ nước ngoài (NTPNN) không phải là người trực tiếp nộp thuế cho cơ quan thuế nhưng khoản thuế trên được khấu trừ trực tiếp vào khoản tiền thanh toán mà bên NTNN, NTPNN được nhận từ việc cung cấp HHDV trên lãnh thổ VN. Như vậy, mặc dù bên Việt Nam đứng ra nộp thay hay bên NTNN tự nộp (trong trường hợp có cơ sở thường trú và áp dụng CĐKT Việt Nam), thì thuế NTNN vẫn đánh vào phần kết quả kinh doanh của NTNN tại Việt Nam. Thuế NTNN bao gồm cả thuế GTGT mang tính chất của loại thuế gián thu, người chịu thuế và người nộp thuế là hai đối tượng khác nhau.
Người có nghĩa vụ nộp thuế là các tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh hàng hóa và dịch vụ chịu Sinh viên: Vũ Phương Diệu Lớp KTI-K12 6 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG Khóa luận tốt nghiệp thuế GTGT, tiến hành nộp thuế dưới hình thức tự nộp hoặc bên chi trả mua hàng hóa dịch vụ kê khai và nộp hộ. Khoản thuế GTGT nộp thay NTNN nếu đủ điều kiện sẽ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào cho doanh nghiệp Việt Nam mua hàng. Người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh các hàng hóa và dịch vụ này. Thứ hai, đối tượng chịu thuế của thuế nhà thầu rất đa dạng, có thể là hàng hóa hoặc dịch vụ mà tổ chức hay cá nhân nước ngoài cung cấp, hoặc là phần thu nhập được tạo ra từ quá trình sản xuất kinh doanh của NTNN tại Việt Nam.
Thứ ba, thuế NTNN tạo ra nguồn thu thuế ngay từ gốc, tức là các cơ quan thuế sẽ không thu thuế của doanh nghiệp nhận thanh toán mà sẽ thu ngay ở doanh nghiệp chi trả. Vai trò của thuế Nhà thầu nước ngoài trong nền kinh tế hiện nay Thứ nhất, thuế NTNN là một công cụ giúp mở rộng đối tượng tính thuế trong hệ thống thuế của quốc gia. Tạo cho Nhà nước một khoản thu gắn với phần lợi ích thu được từ hoạt động kinh doanh của các NTNN trên lãnh thổ Việt Nam, đồng thời mang lại lợi ích cho việc phát triển kinh tế và tạo ra sự công bằng giữa các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế. Thứ hai, thuế NTNN là công cụ để Chính phủ điều chỉnh hành vi của các nhà đầu tư không có tư cách pháp nhân tại nước đó nhằm tránh tình trạng bị thất thu thuế và giảm bớt hiện tượng trốn thuế của các tổ chức kinh doanh, từ đó tạo ra nguồn thu thuế ổn định hơn và đảm bảo tương đối chắc chắn cho Chính phủ.
Thứ ba, thuế NTNN giúp các cơ quan thuế hạn chế được việc ghi nhận các nghiệp vụ phát sinh. Điều này sẽ giúp việc thu thuế của các cơ quan thuế thuận tiện và nhanh chóng hơn. Thứ tư, thuế NTNN giúp tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ có hóa đơn, chứng từ đầy đủ theo quy định của pháp luật. Từ đó các DN có cơ sở để khấu trừ số thuế GTGT đầu vào và số thuế TNDN nộp thay cho bên NTNN.
Điều này sẽ giúp công tác quản lý thuế được chặt chẽ hơn. Sinh viên: Vũ Phương Diệu Lớp KTI-K12 7 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG Khóa luận tốt nghiệp 1. Phương pháp tính thuế NTNN 1. Các văn bản pháp lý quy định về thuế NTNN Hiện nay, các văn bản pháp lý quy định về thuế Nhà thầu tại Việt Nam được Nhà nước ban hành và áp dụng bao gồm: Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 thông qua tại kỳ họp thứ 3 của Quốc hội khóa XII ngày 03/06/2008; Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 thông qua tại kỳ họp thứ 3 của Quốc hội khóa XII ngày 03/06/2008; cùng các công văn hướng dẫn đi kèm.
Bên cạnh đó còn các văn bản pháp luật đã ban hành có liên quan (Phụ lục 1). Đối tượng áp dụng Theo các quy định hiện hành, thuế NTNN được áp dụng với các đối tượng là các tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài (sau đây gọi chung là NTNN, NTPNN) kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thoả thuận, hoặc cam kết giữa NTNN với tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc giữa NTNN với NTPNN để thực hiện một phần công việc của Hợp đồng nhà thầu. Các tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hoá tại Việt Nam theo hình thức xuất nhập khẩu tại chỗ và có phát sinh thu nhập tại Việt Nam trên cơ sở Hợp đồng ký giữa tổ chức, cá nhân nước ngoài với các doanh nghiệp tại Việt Nam (trừ trường hợp gia công và xuất trả hàng hóa cho tổ chức, cá nhân nước ngoài) hoặc cung cấp hàng hoá theo điều kiện giao hàng DDP, DAT, DAP (Các điều khoản thương mại quốc tế - Incoterms) cũng là đối tượng áp dụng của loại thuế này. Các loại thuế áp dụng bao gồm có thuế GTGT, thuế TNDN (đối với NTNN là tổ chức kinh doanh) và thuế TNCN (đối với NTNN là cá nhân.
Các loại thuế, phí và phí khác được thực hiện theo các quy định hiện hành. Các phương pháp tính thuế NTNN Từ định nghĩa, đặc điểm và các phân tích ban đầu về thuế NTNN, ta có thể thấy, thuế NTNN thực chất không quy định là một sắc thuế cụ thể, mà là tên gọi của loại thuế đánh vào phần thu nhập của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam nhưng không có tư cách pháp nhân tại Việt Nam (các nhà thầu nước ngoài). Sinh viên: Vũ Phương Diệu Lớp KTI-K12 8 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG Khóa luận tốt nghiệp Bộ Tài chính quy định việc thu loại thuế này dựa trên hai luật thuế: thuế GTGT và thuế TNDN đối với nhà thầu nước ngoài là tổ chức; thuế GTGT và thuế TNCN đối với nhà thầu nước ngoài là cá nhân. Như vậy, bản chất tên gọi thuế nhà thầu là tên gọi theo đối tượng chịu thuế và bao gồm các loại thuế: thuế GTGT và thuế TNDN/TNCN.
Nhưng đối tượng nộp thuế lại là đối tác Việt Nam - bên mua hàng hóa dịch vụ từ các nhà cung cấp nước ngoài - sẽ tiến hành tính toán, kê khai và nộp hộ cho nhà thầu nước ngoài. Khoản thuế này tùy từng vào các điều kiện cụ thể mà được bên NTNN tự nộp và kê khai hoặc bên mua HHDV là đối tác Việt Nam sẽ kê khai và nộp hộ. Trong mỗi trường hợp đối tượng nộp khác nhau sẽ dẫn đến các căn cứ tính thuế cũng như phương pháp tính thuế khác nhau. Có ba phương pháp tính và nộp thuế NTNN tính đến thời điểm hiện tại là: - Phương pháp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, nộp thuế TNDN trên cơ sở kê khai doanh thu, chi phí để xác định thu nhập chịu thuế (hay còn gọi là phương pháp khấu trừ, kê khai) - Phương pháp nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, nộp thuế TNDN theo tỷ lệ tính trên doanh thu (phương pháp ấn định tỷ lệ).
- Phương pháp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, nộp thuế TNDN theo tỷ lệ % tính trên doanh thu (phương pháp hỗn hợp).