Phần mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thuế TNDN và kế toán thuế TNDN (35 trang) 5 Chƣơng 2: Thực trạng áp dụng kế toán thuế TNDN trên địa bàn Quận 1 Thành Phố Hồ Chí Minh (31 trang) Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán thuế TNDN trên địa bàn Quận 1 Thành Phố Hồ Chí Minh (16 trang) Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 CHƢƠNG 1 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp: Theo chuẩn mực kế toán số 17:“Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) bao gồm toàn bộ số thuế TNDN tính trên thu nhập chịu thuế TNDN, kể cả các khoản thu nhập được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tại ngước ngoài mà Việt Nam chưa ký Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần. Thuế TNDN bao gồm cả các loại thuế liên quan khác được khấu trừ tại nguồn đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam không có cơ sở thường trú tại Việt Nam được thanh toán bởi công ty liên doanh, liên kết hay công ty con tính trên khoản phân phối cổ tức, lợi nhuận (nếu có); hoặc thanh toán dịch vụ cung cấp cho đối tác cung cấp dịch vụ nước ngoài theo quy định của Luật thuế TNDN hiện hành. 1 Thuế TNDN đƣợc ban hành lần đầu tiên vào năm 1998, trải qua 2 lần sửa đổi vào năm 2003 và năm 2008 thay thế cho thuế lợi tức, cùng với Luật thuế GTGT đã trở thành hệ thống chính sách thuế đồng bộ, đã khắc phục đƣợc những hạn chế của thuế doanh thu trƣớc đây. Tuy nhiên, có thể đƣa ra một khái niệm đƣợc pháp luật Việt Nam và nhiều nƣớc khác thừa nhận: “Thuế TNDN là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ sau khi đã trừ đi các khoản chi phí liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh”2 1 Chuẩn mực kế toán số 17 2 Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 7 Ngoài những đặc điểm chung của thuế là có tính cƣỡng chế và tính pháp lý cao, là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp.
Thuế thu nhập doanh nghiệp còn có một số đặc điểm riêng cụ thể là: - Thuế TNDN là loại thuế trực thu: Vì đối tƣợng nộp thuế và đối tƣợng chịu thuế TNDN là một, tức là không có sự chuyển giao gánh nặng thuế từ ngƣời nộp thuế sang ngƣời chịu thuế. - Là loại thuế đánh vào lợi nhuận của các cơ sở sản xuất kinh doanh: Bởi vậy, mức động viên của NSNN đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh cũng nhƣ quy mô lợi nhuận của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế cao sẽ phải nộp thuế nhiều, ngƣợc lại những doanh nghiệp có thu nhập thấp hoặc gặp khó khăn sẽ phải nộp thuế ít thậm chí đƣợc giảm thuế, miễn thuế. - Chỉ đánh vào phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi chi phí liên quan để tạo ra thu nhập đó. - Về nguyên tắc, thuế có tính chất luỹ tiến.
Tuy nhiên, do những điều kiện cụ thể mà một số nƣớc trong đó có Việt Nam áp dụng thuế suất thống nhất. Từ thực tế áp dụng thuế TNDN ở Việt Nam trong những năm qua có thể thấy, đây là một sắc thuế mang lại hiệu quả kinh tế xã hội to lớn cho đất nƣớc: Một là, thuế TNDN đem lại số thu lớn hơn nhiều so với thuế lợi tức trƣớc đây. Điều này thể hiện ở phạm vi điều chỉnh rất rộng của thuế TNDN. Đã khai thác nguồn thu từ các đối tƣợng nộp thuế có tiến hành sản xuất kinh doanh có thu nhập ở mọi lĩnh vực trên mọi địa bàn.
Xu hƣớng tăng trƣởng và phát triển kinh tế ngày càng cao ở Việt Nam hiện nay càng thể hiện tiềm năng đây là nguồn thu chắc chắn có quy mô lớn cho ngân sách nhà nƣớc. Thông qua luật thuế TNDN, Nhà nƣớc đã nắm và điều tiết đƣợc các khoản thu nhập phát sinh trong các cơ sở sản xuất kinh doanh, bao gồm: Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, thu nhập từ chênh lệch mua bán chứng khoán, thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, lãi về chuyển nhƣợng, cho thuê thanh lý tài sản, lãi tiền gửi, lãi cho vay,…Do đó nguồn thu từ thuế tƣơng đối ổn 8 định đã chiếm một phần quan trọng trong tổng số thu thuế và phí của ngân sách nhà nƣớc. Hai là, thông qua luật thuế TNDN, nhà nƣớc thực hiện việc điều tiết nền kinh tế. Qua những năm thực hiện luật thuế TNDN đã kích thích các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tƣ đẩy nhanh tốc độ đầu tƣ toàn xã hội.
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã góp phần khuyến khích đầu tƣ đẩy nhanh tốc độ đầu tƣ và thay đổi cơ cấu nền kinh tế. Thông qua các kênh ƣu đãi về thuế suất và miễn giảm thuế cho các dự án đầu tƣ các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng kinh tế có điều kiện khó khăn, luật thuế thu nhập doanh nghiệp hỗ trợ về vốn và khuyến kích các doanh nghiệp thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh mới, đầu tƣ xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô đổi mới công nghệ, cải thiện môi trƣờng sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất, hƣớng đầu tƣ vào những lĩnh vực ngành nghề, vùng kinh tế theo định hƣớng phát triển kinh tế của nhà nƣớc, từng bƣớc tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế. Thông qua luật thuế TNDN, Nhà nƣớc nắm đƣợc tình hình sản xuất kinh doanh thực tế của các doanh nghiệp, từ có quyết sách đúng đắn khi thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của nền kinh tế, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Luật thuế TNDN còn thể hiện vai trò trong việc thúc đẩy các chính sách sản xuất kinh doanh tăng cƣờng công tác hạch toán kinh doanh.
Bằng việc quy định các khoản chi phí hợp lý để xác định thu nhập chịu thuế phải có các hoá đơn chứng từ hợp pháp đã giúp cho các chính sách sản xuất kinh doanh quan tâm hơn đến việc tiết kiệm chi phí, tăng cƣờng hiệu quả sản xuất kinh doanh, củng cố công tác kế toán, hóa đơn chứng từ theo đúng quy định. Ba là, trong điều kiện thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế thì áp dụng thuế TNDN là nhằm mục đích bao quát nguồn thu đảm bảo công bằng nghĩa vụ nộp thuế. Pháp luật thuế đối với ngƣời có thu nhập cao đã đƣợc ban hành song chỉ điều tiết đƣợc một lƣợng nhỏ cá nhân có thu nhập. Tuy nhiên thực tế, một số lƣợng lớn những ngƣời có thu nhập cao nhƣng không chịu sự điều tiết của luật thuế này.
Chẳng hạn nhƣ những ngƣời nhận thu nhập từ vốn của các 9 công ty nhƣng đầu tƣ ngay trở lại công ty mà không khai báo nhờ đó tránh đƣợc thuế thu nhập cá nhân. Thuế thu nhập cá nhân của nƣớc ta chƣa điều tiết đƣợc những đối tƣợng này là do nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi, trình độ quản lý kém hiệu quả, ý thức tự giác của ngƣời dân về các khoản đóng góp cho Nhà nƣớc chƣa cao, hệ thống tài chính Ngân hàng còn yếu, nên không có căn cứ để kiểm soát các nguồn thu nhập nhất là trong điều kiện nền kinh tế tiền mặt nhƣ hiện nay. Do vậy, thuế TNDN với tƣ cách là một sắc thuế khấu trừ trƣớc, bổ sung cho thuế thu nhập cá nhân vẫn tham gia điều tiết thu nhập của một bộ phận cá nhân tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh. Bốn là, thuế TNDN là công cụ thúc đẩy công tác hạch toán kế toán ở đơn vị.
Theo quy trình thu thuế TNDN các đối tƣợng nộp thuế có nghĩa vụ tự kê khai và tính số thuế phải nộp, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm về số liệu kê khai, tính toán đó. Sự trung thực, chính xác của số liệu phụ thuộc rất lớn vào công tác hạch toán kế toán ở đơn vị. Để đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế TNDN, cơ quan thuế phải chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra đối tƣợng nộp thuế. Qua đó, có thể phát hiện những sai sót hoặc biểu hiện tiêu cực trong quá trình hạch toán kế toán của đối tƣợng nộp thuế.
Tuỳ từng trƣờng hợp sai phạm mà cán bộ thuế áp dụng những biện pháp nhƣ hƣớng dẫn, góp ý, hoặc xử phạt hành chính… Nhờ vậy, ý thức của đối tƣợng nộp thuế sẽ dần đƣợc nâng cao và công tác hạch toán kế toán cũng từng bƣớc đƣợc hoàn thiện.2 - Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế đƣợc xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ thu nhập đƣợc miễn thuế và các khoản lỗ đƣợc kết chuyển từ các năm trƣớc theo quy định. - Thu nhập tính thuế đƣợc xác định theo công thức sau: 10 Các khoản Thu nhập Thu nhập Thu nhập lỗ đƣợc kết = - đƣợc miễn + tính thuế chịu thuế chuyển theo thuế quy định : - Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác. - Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế xác định nhƣ sau: Thu nhập chịu Thu nhập thuế = [Doanh thu - Chi phí đƣợc trừ] + khác Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bằng doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trừ chi phí đƣợc trừ của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó. Doanh nghiệp có nhiều hoạt động kinh doanh áp dụng nhiều mức thuế suất khác nhau thì doanh nghiệp phải tính riêng thu nhập của từng hoạt động nhân với thuế suất tƣơng ứng.
Thu nhập từ hoạt động chuyển nhƣợng bất động sản phải hạch toán riêng để kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, không đƣợc bù trừ với thu nhập hoặc lỗ từ các hoạt động sản xuất kinh doanh khác.