Chương 1 Cơ sở lý luận về kế toán thuế TNDN 1.1 Lý luận chung về thuế TNDN 1.1 Khái niệm Định nghĩa về thuế TNDN đã được đề cập tới trong các tài liệu như sau “Thuế TNDN là sắc thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các DN trong kỳ tính thuế” – Giáo trình Thuế (dành cho đối tượng không chuyên) – Học viện Tài chính – Nhà xuất bản Tài chính (2008) “Thuế TNDN là sắc thuế đánh vào thu nhập của các DN trong kỳ tính thuế” – Bài giảng môn Thuế – Học viện Ngân hàng (2016) Tóm lại, thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và các khoản thu nhập hợp pháp khác của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế (dựa vào Điều 2: Người nộp thuế và Điều 3: Thu nhập chịu thuế của Luật thuế TNDN trong Nghị quyết số 14/2008/QH12). Tên gọi của sắc thuế thường biểu hiện đối tượng chịu thuế của sắc thuế đó. Có sự khác nhau giữa các nước trong việc thiết kế thuế thu nhập, đó là đánh thuế thu nhập theo chủ thể hoặc theo tính chất thu nhập. Nhưng tựu chung lại, thuế TNDN được coi là sắc thuế chủ yếu đánh vào thu nhập chịu thuế phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
Ở Việt Nam, tiền thân của thuế TNDN là thuế lợi tức được áp dụng vào trước năm 1990 và áp dụng cho các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh, với các cơ sở kinh tế quốc doanh áp dụng chế độ trích lợi nhuận. Sau đó, Luật thuế lợi tức áp dụng thống nhất chung đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần của nền kinh tế đã được ban hành cùng với công cuộc cải cách thuế bước I năm 1990. Tuy nhiên qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới Phạm vi điều chỉnh của Luật thuế lợi tức còn hạn hẹp, không bao quát hết mọi loại hình kinh doanh, mọi loại thu nhập đã và đang phát sinh trong nền kinh tế thị trường Mức thuế áp dụng còn quá cao, quá chênh lệch giữa các ngành nghề, gây khó khăn cho quản lý và thu thuế, tạo kẽ hở cho tiêu cực Ưu đãi được giành quá nhiều cho các nhà đầu tư nước ngoài, gây sự bất bình đẳng trong cạnh tranh Vì vậy, Luật thuế TNDN đã được ban hành nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới. Luật thuế TNDN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/05/1997 và có hiệu lực 2 thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức.
Thuế TNDN ban hành đã khắc phục được cơ bản những điểm yếu của thuế lợi tức Phạm vi điều chỉnh luật thuế TNDN đã được mở rộng áp dụng cho cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số đối tượng khác như công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở thường trú tại Việt Nam Các khoản chi phí hợp lý được quy định một cách rõ ràng và phù hợp với những điều kiện của nền kinh tế thị trường theo những thông lệ quốc tế Khuyến khích và thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước thông qua chế độ ưu đãi về thuế suất, miễn, giảm thuế Một số khoản thu nhập có thể phát sinh trong nền kinh tế thị trường được bổ sung vào đối tượng chịu thuế Xóa bỏ sự phân biệt thuế suất và điều chỉnh sát với các mặt bằng thuế suất chung của thuế TNDN trên thế giới Thuế suất được giảm xuống tạo điều kiện cho DN có thêm nguồn lực tài chính để mở rộng sản xuất kinh doanh, đồng thời giảm chi phí trả lãi tiền vay, giảm giá thành, chi phí sản xuất kinh doanh, góp phần khắc phục khó khăn và nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư so với các nước trong khu vực 1.2 Đặc điểm Trước hết, thuế là khoản thu bắt buộc mang tính cưỡng chế bằng sức mạnh của nhà nước mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định. Thuế TNDN mang những đặc điểm của thuế nói chung Tính bắt buộc: Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác cho ngân sách nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một bộ phận thu nhập của người chịu thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người chịu thuế. Tính không hoàn trả trực tiếp: Kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản phẩm công.
Một phần số thuế thu sẽ được hoàn trả gián tiếp cho cộng đồng thông qua các phúc lợi xã hội, cơ sở hạ tầng, an ninh trật tự… Người nộp thuế ít hay nhiều đều được hưởng lợi ích như nhau. Có thể thấy, nguồn thu từ mỗi loại thuế không được quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước. Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế. Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế.
3 Tính pháp lý cao: Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật. Thuế TNDN loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của tổ chức kinh tế. Do đó, sắc thuế này mang những đặc điểm của thuế trực thu. Đối với loại thuế này người nộp thuế cũng chính là người chịu thuế.
Nhà nước áp dụng loại thuế này nhằm điều tiết, động viên trực tiếp vào thu nhập của người có thu nhập, nghĩa là người thực hiện hành vi nộp thuế phải trích một phần từ chính thu nhập của mình để nộp cho Nhà nước mà không thể chuyển nghĩa vụ sang cho người khác. Ưu điểm: Nhà nước hiểu rõ và cá biệt hóa được người chịu thuế Nhược điểm: Thuế trực thu do người có thu nhập phải nộp trực tiếp cho Nhà nước nên họ cảm thấy gánh nặng về thuế do đó có thể dẫn tới những phản ứng tiêu cực, trốn lậu thuế dẫn đến việc quản lý thuế trực thu trở nên phức tạp, chi phí quản lý thường cao hơn thuế gián thu Ngoài ra, thuế TNDN còn có các đặc điểm riêng khác như sau Thuế TNDN đánh vào thu nhập chịu thuế của các cơ sở kinh doanh nên nó phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư. Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có phát sinh thu nhập chịu thuế mới phải nộp thuế TNDN. Thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế TNCN.
Đối với các cá nhân có sở hữu phần vốn góp trong DN, thu nhập mà các cá nhân đó nhận được từ hoạt động đầu tư vốn vào DN là phần thu nhập được chia sau khi nộp thuế TNDN. Việc quản lý thuế đối với doanh nghiệp có thể dựa trên hồ sơ đăng ký kinh doanh và số lượng doanh nghiệp bao giờ cũng ít hơn số lượng cá nhân trong quốc gia cho nên dễ quản lý Tuy được xem là loại thuế trực thu nhưng đôi khi đối tượng chịu thuế TNDN có thể chuyển gánh nặng về thuế cho các đối tượng khác: cho cổ đông, cho người tiêu dùng hoặc cho cả người lao động trong doanh nghiệp. Nguồn của thuế TNDN vượt ra bên ngoài lãnh thổ quốc gia. Quá trình tự do hoá hoạt động thương mại, đầu tư quốc tế đã làm cho hoạt động của các doanh nghiệp vượt ra khỏi biên giới quốc gia.
Việc phân định quyền đánh thuế trở nên cần thiết và các quốc gia có xu hướng hợp tác với nhau để phân định quyền đánh thuế và giảm tình trạng trốn thuế.3 Vai trò Thuế TNDN là 1 trong những nguồn thu của ngân sách nhà nước. Mỗi một loại thuế mà nhà nước ban hành đều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường vai trò này của thuế càng nổi bật bởi thuế là nguồn 4 thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, trong khi các nguồn thu khác mang nhiều khuyết điểm và ràng buộc. Vai trò tạo nguồn thu của thuế xuất phát từ yêu cầu và quyền lực của nhà nước đối với xã hội.
Nhà nước với quyền lực chính trị có thể áp đặt các loại thuế với các mức thuế suất tuỳ ý. Tuy nhiên, khi xét về mục đích lâu dài khi thiết lập các loại thuế, thuế suất, đối tượng chịu thuế chính phủ không chỉ đơn thuần thoả mãn nhu cầu tăng thu của ngân sách nhà nước, mà phải thỏa mãn đồng thời yêu cầu tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập. Việc đáp ứng cả ba yêu cầu đó đòi hỏi chính phủ phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng khi ban hành các loại thuế, bởi vì nguồn thu của thuế bắt nguồn từ thu nhập quốc dân, khả năng động viên của thuế phụ thuộc chủ yếu vào phát triển của sản xuất, hiệu quả của sản xuất. Như vậy, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước là vai trò cơ bản của thuế.
Tuy nhiên để phát huy tốt vai trò này cần phải đặt thuế trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, bởi vì chính sự tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội là cơ sở tồn tại và phát triển của thuế. Với xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của các hoạt động kinh tế ngày càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao thì nguồn thu về thuế TNDN trở nên ngày càng dồi dào cho ngân sách nhà nước. Thuế TNDN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, giá cả, quan hệ cung cầu, cơ cấu đầu tư và đến sự phát triển hoặc suy thoái của một nền kinh tế.