Đặt vấn đề. Phần II : Nội dung và kết quả nghiên cứu. - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác thuế GTGT và thuế TNDN. - Chƣơng 2: Thực trạng công tác kế toán thuế GTGT và kế toán TNDN tại Công ty TNHH MTV FORD BEN.
- Chƣơng 3: Một số đánh giá và đề xuất nhằm cải thiện tình trạng công tác kế toán thuế GTGT và TNDN tại Công ty TNHH MTV FORD BEN. Phần III: Kết luận và kiến nghị. 4 PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ, CÔNG TÁC KẾ TOÁN THUẾ THUẾ GTGT VÀ THUẾ TNDN. Những vấn đề cơ bản về thuế 1.
Khái niệm về thuế. Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện với Nhà nƣớc, phát sinh trên cơ cở các văn bản pháp luật do nhà nƣớc ban hành, không mang tính chất đổi trả và hoàn trả trực tiếp cho đối tƣợng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tƣợng tự nhiên mà là một hiện tƣợng do chính con ngƣời định ra và nó gắn liền với phạm trù của nhà Nƣớc va pháp luật. Đăng Thủy (2011), Giáo trình thuế, Trang 2.
Đặc điểm của Thuế. - Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội các giai cấp đối kháng va sự xuất hiện của Nhà nƣớc – pháp luật. - Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nƣớc cao nhất ban hành. - Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa cụ bắt buộc của các pháp nhân và thể nhân đối với Nhà nƣớc không mang tính đổi trả, hoàn trả trực tiếp.
- Thuế là công cụ phản ánh mối quan hệ phân phối lại của cải vật chất dƣới hình thức giá trị giữa nhà nƣớc với các chủ thể khác trong xã hội. Đăng Thủy (2011), Giáo trình thuế, Trang 2. Chức năng và vai trò của thuế. - Chức năng phân phối và phân phối lại là chức năng cơ bản, đặc thù của thuế.
5 Ngay từ lúc ra đời thuế là phƣơng tiện dùng để động viên nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nƣớc (có mặt ở các tất cả các kiểu nhà nƣớc). Nhà nƣớc dùng tiền tƣ nguồn thu của thuế để đầu tƣ, xây dựng và phân phối lại thu nhập trong xã hội - Chức năng điều tiết đối với nền kinh tế. Thuế là một công cụ mà Nhà nƣớc có thể sử dụng để khuyến khích, hạn chế hoặc thực hiện chức năng điều chỉnh nền kinh tế thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tƣợng chịu thuế và đối tƣợng nộp thuế, xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuê phủ nộp có tính đến khả năng của ngƣời nộp thuế. Trên cơ sở đó Nhà nƣớc kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội.
Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trƣờng, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngay cũng đƣợc nâng cao. Nhà nƣớc và dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vị lợi ích của nền kinh tế quốc dân. Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nƣớc không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chu thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chu thể kinh doanh. Vai trò của thuế đối với nền kinh tế thị trường.
- Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng, với sự thay đổi phƣơng 1 thức can thiệp của Nhà nƣớc vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò của thuế đƣợc thể hiện trên các khía cạnh sau đây: - Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước: Mọi Quốc gia luôn cần có một nguồn lực tài chính thật vững mạnh để có thể chi tiêu vào các vấn đề nhƣ quân sự, y tế, giáo dục. để đƣợc nhƣ vậy thì cần phải có một nguồn thuế ổn định qua hằng năm.
Đây là vai trò có thể nói là quan trọng nhất của thuế. - Pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội: Với nền kinh tế thị trƣờng hiện tại, Nhà nƣớc có thể sử dụng quyền 6 lực của mình để điều tiết nền kinh tế vĩ mô bằng các thay đổi về chính sách thuế. Nhà nƣớc có thể tăng thuế để hạn chế, giảm thuế để khuyến khích sự phát triển của các nghề khác nhau. - Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng gồm các thành phần kinh tế và công bằng xã hội: Ngày nay, Nhà nƣớc đã xác định các đối tƣợng để điều tiết khác nhau với các mức thuế suất và các chế độ ƣu đãi khác nhau.Sự bình đẳng của chính sách thuế sẽ tạo điều kiện cho mọi thành phần trong xã hội làm ăn có hiệu quả, có năng suất cao phải đƣợc thu nhập cao hơn.
Tổng quan về thuế GTGT 1. Khái niệm thuế GTGT. a, Khái niệm: Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. (Trích từ Điều 2, Luật số 13/2008/QH12 ban hành ngày 3/6/2008) b, Nguồn gốc của thuế GTGT: - Thuế GTGT có nguồn gốc xuất xứ từ thuế doanh thu.
- Quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng là Pháp vào năm 1954. Tên theo tiếng Pháp là “Taxe Sur La Valeur Ajou tée” (viết tắc là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắc là VAT) và đƣợc dịch sang tiếng Việt là thuế giá trị gia tăng. - Hiện nay, thuế GTGT đƣợc áp dụng rất rộng rãi và phổ biến trên toàn thế giới, trong đó có các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu Á, và Việt Nam cũng đã chính thức áp dụng loại thuế này. Tính đến nay đã có khoảng 130 quốc gia áp dụng thuế giá trị gia tăng.
- Ở Việt Nam, tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9, Quốc hội nƣớc ta đã thông qua Luật thuế giá trị gia tăng và có hiệu lực thi hành kề từ ngày 01-01-1999. 7 c, Đặc điểm của thuế GTGT: Thuế GTGT có các đặc điểm nổi bật sau đây: - Thứ nhất, đối tƣợng chịu thuế GTGT là các đối tƣợng nhƣ hàng hóa tiêu dùng, dịch vụ đƣợc sử dụng trên lãnh thổ đất nƣớc Việt Nam - Thứ hai, thuế GTGT có phạm vi tác động lớn, hầu hết các hàng hóa dịch vụ trên đất nƣớc Việt Nam đều phải chịu. - Thứ ba, thuế GTGT có căn cứ tính thuế là phần tăng thêm của hàng hóa,dịch vụ trong suốt quá trình sản xuất, lƣu thông và tiêu dùng. - Thứ tƣ, thuế GTGT có tính chất trung lập kinh tế cao.
- Thứ năm, thuế GTGT có tính chất lũy thoái. d, Vai trò của thuế GTGT: Ta có thể liệt kê một số vai trò của thuế GTGT nhƣ sau: - Thuế GTGT tạo nguồn thu lớn và ổn định cho NSNN vì hấu hết các loại hàng hóa dịch vụ đều bị đánh thuế. - Thuế GTGT giúp cho tổ chức và cơ quan chức năng dễ dàng hơn trong công việc quản lý các loại thuế trực thu, bởi vì không mất quá nhiều thời gian đánh giá, phân tích tính hợp lý của thuế. - Hàng hóa đƣợc nhập khẩu từ nƣớc ngoài về Việt Nam bị đánh thuế GTGT khá cao, giúp bảo hộ quá trình sản xuất sản phẩm trong nƣớc và khuyến khích hàng tiêu dùng nội địa.
- Trong kế toán việc xuất các hóa đơn chứng từ liên quan đến thuế GTGT làm nâng cao công tác hạch toán, rõ ràng mua bán giữa các bên. - Việc đánh thuế GTGT có tác dụng lớn trong việc điều tiết thu nhập của cá nhân, tổ chức trong việc mua sắm tài sản, dịch vụ, tiêu dùng hàng hóa chịu thuế GTGT. Đối tƣợng chịu thuế GTGT, đối tƣợng nộp thuế GTGT. a, Đối tƣợng chịu thuế GTGT: - Đối tƣợng chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nƣớc ngoài), trừ các đối tƣợng không chịu thuế GTGT hƣớng dẫn tại Điều 4 Thông tƣ số 219/2013/TT-BTC, đã sửa đổi và bổ sung tại Điều 1 tại Thông tƣ số 26/2015/TT-BTC.
- Đối tƣợng không chịu thuế là những đối tƣợng đƣợc quy định tại Điều 4 Thông tƣ số 219/2013/TT-BTC, đã đƣợc bổ sung tại Điểu 1 tại Thông tƣ số 26/2015/TT-BTC. Trong đó có 26 nhóm hàng hóa dịch vụ không chịu thuế có nội dung, tính chất nhƣ sau: + Các hoạt động, sản phẩm của các nghành nghê cân khuyến khích phát triển nhƣ; các sản phẩm, dịch vụ phục vụ phát triển nông nghiệp: Tƣới, tiêu nƣớc; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mƣơng nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp; dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp,. + Các hàng hóa, dịch vụ có tính thiết yếu cho đời sống hằng ngày nhƣ các sản phẩm sau: Sản phẩm muối đƣợc sản xuất từ nƣớc biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối i-ốt, các dịch vụ nhƣ dịch vụ y tế, dịch vụ thú y, bao gồm dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh cho ngƣời và vật nuôi,. + Các hoạt động, dịch vụ mang tính chất cải thiện, vì xã hội, vì cộng đồng nhƣ các hoạt động: dịch vụ bƣu chính viễn thông công ích và Internet phổ cập; dịch vụ duy trì vƣờn thú, cảnh quan đô thị, nhà tang lễ; các dịch vụ dạy học, dạy nghề (dạy hát, múa, tin học, ngoại ngữ, nhạc kịch,.); dịch vụ vận chuyển hành khách công cộng,.
+ Các hoạt động truyền thông, xuất bản, in ấn của Nhà nƣớc hoặc có mục đích giáo dục,. 9 + Các sản phẩm, hoạt động, hàng hóa có tính nhân đạo nhƣ: Các sản phẩm nhân tạo thay thế bộ phận cho con ngƣời, các hoạt động viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại,. + Khó xác định giá trị tăng thêm nhƣ các hoạt động, dịch vụ tài chính,.