Chương I: Giới thiệu nghiên cứu Chương II: Tổng quan lý thuyết về thuế giá trị gia tăng Chương III: Khái quát và thực trạng công tác kế toán thuế giá trị gia tăng tại công ty Chương IV: Kết luận và hàm ý 6 CHƢƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 2. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc Trên thế giới Nghiên cứu của Zafarullah, M. Bài viết đã cung cấp cái nhìn tổng quan về cách thức hoạt động của hệ thống thuế GTGT, cách tính thuế và cách khai tờ khai và quan trọng nhất là cách hạch toán trong phần mềm kế toán của công ty và những vấn đề kế toán mà các doanh nghiệp đang phải đối mặt tại UAE. Từ kết quả của bài nghiên cứu, tác giả đưa ra một số giải pháp giúp doanh nghiệp thực thi nghĩa vụ nộp thuế GTGT một cách hiệu quả là nâng cấp phần mềm kế toán, tuân thủ chính sách kế toán và đánh giá liên tục, thuê những cố vấn thuế bên ngoài.
Nghiên cứu của Bachynskyi, V. (2020) Bài nghiên cứu “Actual aspects of VAT accounting for the purchase of goods” của hai tác giả Bachynskyi và Pomulieva đã nêu lên những hạn chế và khó khăn hiện tại của kế toán thuế GTGT trong hoạt động mua bán hàng hóa và tìm kiếm các giải pháp hiệu quả cho công tác kế toán. Tác giả đã đề xuất sử dụng tài khoản phân tích để trích xuất chi tiết giá cụ thể của thuế GTGT khi mua hàng hóa. Kết quả bài nghiên cứu giúp cho doanh nghiệp định hình được những chính sách phù hợp về kế toán thuế GTGT, góp phần đảm bảo độ tin cậy của công tác kế toán, báo cáo thuế và tính đúng đắn của các tính toán so với ngân sách.
Tại Việt Nam Nghiên cứu của Đặng Thị Yến Nhƣ (2022) Bài nghiên cứu “Kế toán thuế giá trị gia tăng tại Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn IUM Logistics” của tác giả Đặng Thị Yến Như đã khái quát về luật thuế GTGT và thực trạng kế toán thuế GTGT tại công ty TNHH IUM Logistics. Đồng thời cho thấy rằng, công tác kế toán thuế GTGT tại đơn vị tương đối hoàn chỉnh với nhiều ưu điểm nổi bật. Song vẫn còn nhiều hạn chế trong quá trình hạch toán thuế GTGT 7 tại công ty. Do đó, tác giả đề xuất các cách để hoàn thiện bộ máy quản lý thuế, quy định về tổ chức và kiểm tra hóa đơn, chứng từ theo quy định cụ thể tại công ty.
Bên cạnh đó, công ty cần phải nâng cao chất lượng và trình độ chuyên môn của cán bộ nhân viên và chất lượng ứng dụng công nghệ thông tin để hoàn thiện hơn trong công tác kế toán thuế GTGT. Nghiên cứu của Đặng Văn Sáng (2018) Bài nghiên cứu “Một số vấn đề về hoàn thiện kế toán hoàn thuế giá trị gia tăng tại doanh nghiệp nhỏ và vừa” của tác giả Đặng Văn Sáng đã đề cập đến kế toán nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh liên quan đến vấn đề hoàn thuế GTGT. Bài nghiên cứu đã nêu rõ những vấn đề tồn tại trong công tác kế toán thuế GTGT trong thời gian qua, khi mà các chính sách ưu đãi về thuế (chính sách hoàn thuế) đã được Chính phủ ban hành nhằm tháo gỡ những khó khăn cho doanh nghiệp sau khi chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh covid-19. Từ thực trạng trên, tác giả đã đề xuất mở thêm hai tài khoản chi tiết cho tài khoản 133 - “Thuế GTGT được khấu trừ” là Tài khoản 1334 “Thuế GTGT đề nghị hoàn” và Tài khoản 1335 “Thuế GTGT được hoàn phải thu” nhằm giúp cho công tác lập báo cáo thuế GTGT không bị nhầm lẫn giữa các khoản thuế GTGT với nhau.
Tổng quan về thuế giá trị gia tăng 2. Sự xuất hiện của thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam Các quốc gia như Canada, Nhật Bản, Thụy Sĩ, Vương quốc Anh, Đan Mạch, Newzealand, Thụy Điển, Na Uy, Iceland, Ireland và nhiều quốc gia khác đã thay thế các loại thuế một giai đoạn, chẳng hạn như thuế nhà sản xuất, thuế bán buôn, thuế bán lẻ, thuế tiêu thụ đặc biệt, vì chúng cũng dễ gặp nhiều vấn đề khác nhau, chẳng hạn như khó xác định chúng trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại, tạo ra sự bóp méo cạnh tranh, dẫn đến xếp tầng thuế và không hiệu quả trong việc áp dụng nó cho các dịch vụ. Tương tự đó, theo Luật thuế doanh thu Việt Nam, doanh thu phát sinh chính là cơ sở để thực hiện việc thu nộp thuế, do vậy mà toàn bộ doanh thu phát sinh của sản phẩm trải qua mỗi chuyển dịch tư sản xuất tới lưu thông tới tiêu thụ đều sẽ bị đánh 8 thuế. Nếu càng nhiều khâu thì số thuế càng tăng thêm, dễ dẫn tới tình trạng thuế chồng thuế, thu thuế trùng lặp với phần doanh thu đã chịu thuế ở công đoạn trước.
Chính vì vậy mà Luật thuế giá trị gia tăng được đưa vào áp dụng từ năm 1999 với ưu điểm hơn từ thuế giá trị gia tăng. Khái niệm thuế giá trị gia tăng Theo Điều 2 Luật thuế GTGT số 01/VBHN-VPQH năm 2016, " Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đặc điểm Thuế GTGT là một loại thuế gián thu (tức là người nộp thuế không phải là người chịu thuế), có tính chất trung lập về kinh tế. Điều này có nghĩa là thuế GTGT không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tài sản (kết quả kinh doanh) của người nộp thuế.
Thuế GTGT điều tiết gián tiếp thông qua giá cả của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Thuế GTGT do người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT nộp cho Nhà nước. Nhưng người chịu thuế là người tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cuối cùng. Các cơ sở kinh doanh chỉ đóng vai trò là thu hộ tiền thuế GTGT của người tiêu dùng.
Sau đó nộp vào Ngân sách Nhà nước qua các kỳ kê khai, tính nộp thuế GTGT. Thuế GTGT là thuế đánh vào nhiều giai đoạn. Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ. Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với toàn bộ giá trị hàng hóa dịch vụ làm cho số thuế giá trị gia tăng áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng.
Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Thuế GTGT mang tính chất lãnh thổ. Đối tượng chịu thuế GTGT là người tiêu dùng trong phạm vi lãnh thổ Quốc gia. Điều này lý giải cho chúng ta tại sao Thuế GTGT nước ta lại góp phần khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu hàng hoá.
Bởi vì không những hàng hóa xuất khẩu chịu thuế suất GTGT 0% ở khâu xuất khẩu và vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào trước đó. Đối tƣợng nộp thuế giá trị gia tăng Theo Điều 4 Luật thuế GTGT số 01/VBHN-VPQH năm 2016, "Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là người nhập khẩu)." Công ty Phúc Thịnh là tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp nên công ty có nghĩa vụ kê khai và nộp thuế GTGT cho nhà nước. Đối tƣợng chịu thuế giá trị gia tăng Theo Điều 3 Luật thuế GTGT số 01/VBHN-VPQH năm 2016, "Một số hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng không thuộc các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này, là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng." Một số loại hàng hóa dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của Công ty Phúc Thịnh không thuộc các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này, do đó một số hàng hóa của công ty là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng. Đối tƣợng không chịu thuế giá trị gia tăng Theo Điều 5 Luật thuế GTGT số 01/VBHN-VPQH năm 2016, công ty Phúc Thịnh có các hàng hóa dịch vụ không chịu thuế GTGT theo luật là: "Sản phẩm trồng trọt chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.
Nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng hóa xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất; gia công xuất khẩu ký kết với bên nước ngoài. Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng * Căn cứ tính thuế GTGT: Theo Điều 6 Luật thuế GTGT số 01/VBHN-VPQH năm 2016, căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất. * Giá tính thuế: là giá bán chưa có thuế GTGT được xác định tùy theo loại hàng hóa và tính chất giao dịch của HHDV. 10 Theo điều 7 Luật thuế GTGT số 01/VBHN-VPQH năm 2016, áp dụng với các HHDV của công ty Phúc Thịnh có các luật như sau: "Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng.
Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu. Đối với gia công hàng hóa là giá gia công chưa có thuế giá trị gia tăng; Đối với hàng hóa, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì giá tính thuế được xác định theo công thức sau: Giá chưa có thuế giá trị gia tăng = " * Thuế suất thuế GTGT: là mức thuế phải nộp trên một đơn vị hàng hóa, dịch vụ chịu thuế. Theo điều 9,10,11 Thông tư số 219/2013/TT-BTC, Việt Nam có mức thuế suất phổ thông là 10%, 8% (trong năm 2022) và thuế suất ưu đãi 5%, 0%.
Đặc biệt, ngoại trừ một số mặt hàng nhất định được qui định theo Nghị quyết 3/2022/QH15 & Nghị định 15/2022/NĐ-CP, kể từ ngày 01/02/2022 đến ngày 31/12/2022, thì các doanh nghiệp, đơn vị, hộ cá nhân kinh doanh chính thức áp dụng chính sách giảm thuế mới với mức thuế suất thuế GTGT giảm từ 10% xuống còn 8%.