CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GTGT VÀ KẾ TOÁN THUẾ GTGT 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GTGT 1. Sự ra đời và phát triển của thuế GTGT Thuế ra đời, tồn tại và phát triển cùng với Nhà nước và sản xuất hàng hóa nên khi nền sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước cũng tăng lên, Nhà nước không ngừng cải tiến bổ sung các loại thuế để tăng thêm nguồn thu cho mình. Để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) nhằm động viên sự đóng góp vủa quần chúng nhân dân, thuế doanh thu đã được áp dụng đầu tiên ở Pháp từ năm 1917.
Thời kỳ đầu, thuế doanh thu chỉ thu được ở giai đoạn cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hóa với thuế suất rất thấp. Vì vậy số thu từ thuế rất ít và khó quản lý thu thuế, đến đầu năm 1920 thuế doanh thu đã được điều chỉnh đánh vào từng khâu của quá trình sản xuất. Khi thuế doanh thu được tính và nộp cho từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất, lưu thông sẽ làm cho thuế được san sẻ qua các khâu nên đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ. Trên thực tế việc tính thuế và thu thuế theo cách này đã phát sinh tính trùng lặp.
Khi quá trình sản xuất ra sản phẩm càng qua nhiều khâu của nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau thì thuế càng cao và thuế trùng lên thuế càng nhiều. Để khắc phục được nhược điểm này, năm 1936 Pháp đã cải tiến thuế doanh thu từ việc đánh vào doanh thu của từng khâu sang hình thức đánh thuế một lần như vậy khắc phục được hiện tượng đánh thuế trùng lặp nhưng cách tính này lại phát sinh nhược điểm là việc thu thuế bị chậm so với trước, vì chỉ khi hàng hóa đi vào lưu thông Nhà nước mới được thu thuế,… Trước một thực tế là nhà nước muốn thu được nhiều thuế và thu kịp thời, vừa thúc đẩy sản xuất phát triển để bồi dưỡng nguồn thu cho các giai đoạn sau, các nhà kinh tế đã liên tục sửa đổi bổ sung cho thuế doanh thu ngày càng 4 hoàn thiện. Và vào đầu những năm 50, một người Đức tên là Carl Fiedrich Von Simens đã nghĩ ra một chính sách thuế có thể thay thế cho thuế doanh thu: Đó là thuế GTGT. Tuy nhiên lý luận của Simens không đủ sức thuyết phục chính phủ Đức.
Nên không thực hiện đầu tiên ở Đức. Trên thực tế thì thuế GTGT được nghiên cứu và áp dụng đầu tiên tại cộng hòa Pháp từ ngày 1/7/1954. Thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nước. Theo báo cáo của quỹ tiền tệ quốc tế, tính đến năm 2013 đã có hơn 150 quốc gia áp dụng thuế GTGT.
Ở Việt Nam, thuế GTGT đã được áp dụng với mục đích từng bước hòa nhập với chính sách thuế của các nước trong khu vực và trên thế giới, vươn tới cải cách hệ thống thuế khóa thích hợp cho việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Căn cứ vào nghị quyết của quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 2 ngày 23/12/1992 và được phép của chính phủ ngày 5/7/1993, Bộ tài chính đã có quyết định số 468 ban hành chế độ thuế GTGT để thực hiện thí điểm loại thuế này. Qua quá trình thí điểm, Nhà nước đã có được kết quả như mong muốn. Ngày 10/5/1997 Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 11 đã thông qua luật thuế GTGT.
Luật thuế này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1999. Và từ đó đến nay đã có sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tế phát triển kinh tế xã hội nước nhà. Hiện nay chúng ta đang thực hiện tính thuế GTGT theo Luật thuế GTGT số 31/2013/QH13 và sự chỉ dẫn tính thuế, kê khai, nộp thuế, quản lý thuế theo thông tư số 219/2013/TT-BTC, thông tư số 156/2013/TT-BTC. Khái niệm thuế GTGT Theo luật thuế GTGT số 31/2013/QH13: “Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” Giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ chính là phần giá trị mới sáng tạo ra sau mỗi giai đoạn luân chuyển.
Hiểu một cách cụ thể như sau: Giá trị 5 của hàng hóa, dịch vụ là C+V+m, trong đó C là lao động quá khứ được chuyển vào sản phẩm, còn V+m chính là giá trị gia tăng. Giả sử tới giai đoạn luân chuyển tiếp theo, sản phẩm này lại là TSCĐ hay nguyên liệu sản xuất thì nó lại đóng vai trò là phần C của sản phẩm mới. Cứ như vậy, đến người tiêu dùng cuối cùng thì toàn bộ C+V+m là tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ qua các giai đoạn sản xuất kinh doanh khác nhau. Mỗi một sản phẩm, hàng hóa nếu không đi vào tiêu dùng sẽ đi vào quá trình sản xuất tiếp theo và lại làm tăng thêm giá trị.
Và thuế GTGT được tính ở mọi khâu của quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ; nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm trong mỗi khâu của quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Điều đó có nghĩa là: Nếu bạn là nhà sản xuất, bạn sẽ phải nộp thuế GTGT cho phần giá trị tăng thêm bạn tạo ra từ khi mua nguyên liệu về sản xuất, chế tác cho tới khi bán ra; Nếu bạn là nhà phân phối, bạn sẽ phải nộp thuế GTGT cho phần giá trị tăng thêm bạn tạo ra do chênh lệch khi mua về và bán ra; Nếu bạn là người tiêu dùng cuối cùng, thì bạn chính là người chịu thuế, bạn phải chịu toàn bộ thuế GTGT tính trên giá trị của sản phẩm, hàng hóa bạn mua. Đặc điểm của thuế GTGT Thuế GTGT có một số đặc điểm sau đây: Thứ nhất: Thuế GTGT là loại thuế gián thu.Đối tượng nộp thuế GTGT là người bán hàng hóa, dịch vụ nhưng người chịu thuế GTGT lại là người tiêu dùng bởi vì thuế GTGT ẩn trong giá bán của hàng hóa, dịch vụ. Nói cách khác Nhà nước gián tiếp thu khoản thuế này của người tiêu dùng thông qua người bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ.
Thứ hai: Thuế GTGT đánh vào giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn sản xuất từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Đối tượng điều tiết thuế GTGT là phần thu nhập của người 6 tiêu dùng sử dụng để mua hàng hóa, dịch vụ. Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu ở khâu bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ là đủ. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó để phân biệt đâu là tiêu dùng cuối cùng, đâu là tiêu dùng trung gian, vì thế cứ có hành vi mua bán hàng thì phải tính thuế, nếu đó là tiêu dùng trung gian thì số thuế sẽ được tự động chuyển vào giá bán hàng hóa cho người mua ở giai đoạn sau.
Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm phát sinh ở từng giai đoạn luân chuyển. Tổng số thuế thu được ở các giai đoạn đúng bằng số thuế tính theo giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Thứ ba: Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao. Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng của kết quả sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, không phải là yếu tố chi phí mà chỉ đơn thuần là một khoản được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng của tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế: tổng số thuế ở các giai đoạn khớp với số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng, bất kể số giai đoạn đó là nhiều hay ít. Thứ tư: Thuế GTGT có tính lũy thoái so với thu nhập. Bất kỳ người tiêu dùng nào không phân biệt giàu nghèo khi tiêu dùng đều phải chịu khoản thuế GTGT là như nhau trên mỗi một sản phẩm. Như vậy , nếu so sánh giữa số thuế phải trả với thu nhập thì người nào có thu nhập cao hơn thì tỷ lệ này thấp hơn và ngược lại.
Vai trò của thuế GTGT Thứ nhất: Thuế GTGT góp phần thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển, mở rộng lưu thông hàng hóa, dịch vụ,… Vì thế thuế giá trị gia tăng ra đời đã khắc phục được tình trạng trùng lắp của thuế doanh thu trước đây. Thứ hai: Đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho ngân sách nhà nước. Thuế GTGT huy động và xác định ngay từ khâu đầu và việc thu thuế giá trị gia tăng ở khâu sau còn kiểm tra việc tính thuế GTGT đã nộp ở khâu trước nên hạn chế được việc thất thu thuế, kiểm soát được nguồn thu trên toàn bộ nền kinh tế. 7 Thứ ba: Thuế giá trị gia tăng góp phần tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hóa phải có đầy đủ chứng từ hóa đơn phù hợp với quy định của pháp luật.
Việc đăng ký mã số thuế cùng với phương pháp khấu trừ thuế đã buộc người mua, người bán thực hiện tốt hơn chế độ hóa đơn, chứng từ trong các hoạt động thanh toán. Thứ tư: Thuế GTGT còn khuyến khích xuất khẩu và đầu tư vì hàng hóa xuất khẩu chịu thuế suất 0% nên sẽ được hoàn thuế và không đánh vào đầu tư, do đó thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển, lưu thông hàng hóa giữa các nước sẽ được phong phú hơn và tạo điều kiện cho đầu tư cơ sở vật chất. Kể từ khi luật thuế GTGT chính thức được thực thi, Chính phủ và bộ Tài Chính đã ban hành các văn bản pháp quy để hướng dẫn sửa đổi bổ sung. Thuế GTGT đã và đang từng bước được hoàn thiện, khắc phục những tồn tại vốn có trong thời kỳ chuyển đổi và ngày một phát huy vai trò của thuế GTGT trong nền kinh tế thị trường đầy biến động, đảm bảo tính khoa học,tính thực tiễn của một sắc thuế trong điều kiện kinh tế thị trường.
Một số nội dung cơ bản trong Luật, quy định về thuế GTGT 1. Đối tượng nộp thuế, chịu thuế Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT.