CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GTGT VÀ KẾ TOÁN THUẾ GTGT 1.1 Lý luận về thuế GTGT 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thuế GTGT trên thế giới và ở Việt Nam Thuế GTGT có tên viết tắt là VAT (Value Added Tax) là một dạng của thuế thương vụ, là một loại thuế gián thu đánh vào người tiêu dùng cuối cùng, dù chủ thể nộp thuế là doanh nghiệp. Luật Thuế GTGT lần đầu xuất hiện tại Pháp năm 1954 dưới tên gọi “Taxe sur la valeur ajoutée" (TVA) bởi nhà kinh tế học Maurice Lauré và được áp dụng thí điểm với doanh nghiệp lớn, sau đó mở rộng tới tất cả bộ phận khác trong nền kinh tế. Chỉ một năm sau, TVA được áp dụng chính thức tại Pháp thay thuế sản xuất và một vài sắc thuế gián thu khác. Do ưu thế là việc đánh thuế GTGT chỉ đánh trên phần GTGT của HHDV, không gây tình trạng đánh thuế trùng lặp nên đã được áp dụng trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trong đó có Việt Nam.
Chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng và Nhà nước ta luôn cố gắng thực hiện đường lối đổi mới chính sách kinh tế, đầy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, tiến tới xu hướng toàn cầu hóa. Vì thế thuế doanh thu không còn phù hợp, cần được thay bằng một loại thuế hiện đại, áp dụng bởi hầu hết các nước trên thế giới là thuế GTGT. Ngày 5/7/1993, theo Quyết định số 486-TC/QĐ/TCT của Bộ Tài chính thực hiện thí điểm thuế GTGT ở 11 doanh nghiệp quốc doanh thuộc các ngành có quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng trải qua nhiều công đoạn (các ngành như sản xuất xi măng, sản xuất sợi, dệt, sản xuất đường). Tiếp theo, Nhà nước liên tục thực hiện cải cách thuế bước 1 (1990 – 1996), cải cách thuế bước 2 (1999 – 2004).
Tại kỳ họp Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 11 dự thảo luật thuế GTGT được thông qua. Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ban đã soạn thảo các văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế. Ngày 1/1/1999, Luật thuế GTGT số 57/1997/L-CTN được áp dụng trên toàn quốc tuy nhiên vẫn còn sơ khai cũng như tồn tại nhiều hạn chế, bất cập. Sau 4 nhiều lần sửa đổi (năm 2003, 2005), ngày 3/6/2008 Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 ra đời đánh dấu sự phát triển về Chính sách thuế GTGT.
Luật này được bổ sung, sửa đổi 3 lần vào năm 2013, 2014, 2016 để phù hợp thực tiễn hoạt động kinh tế phát sinh ở mỗi giai đoạn khác nhau. Năm 2024, Bộ Tài chính đang đề xuất Dự thảo sửa đổi Luật thuế GTGT nhằm hoàn thiện quy định về chính sách thuế, khắc phục vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật thuế GTGT trong thời gian qua, phù hợp với xu hướng cải cách thuế quốc tế.2 Khái niệm thuế GTGT Theo Điều 2 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12: “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của HHDV phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”.3 Đặc điểm thuế GTGT Thuế gián thu Thuế GTGT là thuế được thu từ khâu tiêu thụ HHDV; gián tiếp đánh vào thu nhập của người tiêu dùng qua giá cả. Người bán hàng khi bán sẽ cộng số thuế GTGT vào giá bán mà người mua phải trả khi mua HHDV. Tiền thuế GTGT có trong giá thanh toán, được cơ sở SXKD nộp vào NSNN thay người tiêu dùng.
Thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn nhưng không trùng lắp Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn luân chuyển HHDV đến quá trình tiêu thụ nhưng chỉ tính trên phần GTGT ở mỗi giai đoạn và không trùng lặp. Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ kết quả kinh doanh của người nộp thuế do người nộp thuế nộp thay người tiêu dùng vào NSNN. Do đó, thuế GTGT không thuộc yếu tố trong chi phí sản xuất mà là khoản thuế cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp HHDV.
Thuế GTGT phải nộp ở mỗi khâu phụ thuộc phần GTGT 5 tại khâu đó, nên thuế GTGT không làm tăng đột biến giá sản phẩm, không gây biến động cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi việc tổ chức, phân chia quá trình SXKD, vì việc tổ chức, phân chia chu trình kinh tế khiến sản phẩm được luân chuyển qua nhiều hay ít giai đoạn thì tổng số thuế phải nộp của tất cả các giai đoạn vẫn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng. Thuế GTGT có tính lũy thoái so với thu nhập Thuế GTGT tính vào HHDV và người tiêu dùng cuối cùng là người trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp, số thuế GTGT mà mỗi người tiêu dùng cùng HHDV phải nộp như nhau. So sánh tỷ suất thuế GTGT trên tổng thu nhập thì người thu nhập cao có tỷ suất thấp hơn người thu nhập thấp.
Thuế GTGT có tính lãnh thổ Thuế GTGT ở một nước chỉ hiệu lực trong lãnh thổ của quốc gia đó. Đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng trong quốc gia và thuế GTGT đánh vào HHDV phục vụ cho SXKD, tiêu thụ ở quốc gia đó.4 Vai trò của thuế GTGT Tăng nguồn thu NSNN Thuế GTGT góp phần quản lý, điều tiết xã hội. Việc đánh thuế GTGT động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách qua chi tiêu mua sắm HHDV. Nộp thuế GTGT đảm bảo nguồn thu lớn, ổn định, kịp thời cho NSNN, tăng cường tài chính quốc gia, đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, củng cố an ninh quốc phòng.
Thuế GTGT điều tiết thu nhập nền kinh tế qua điều tiết thu nhập của tổ chức, cá nhân tiêu dùng HHDV chịu thuế GTGT, điều tiết sản xuất, tiêu dùng, điều tiết kinh tế. Chính sách thuế GTGT nâng cao tính tự giác trong nộp thuế. Trong chế độ kê khai nộp thuế GTGT hiện nay, Cơ quan Thuế tạo điều kiện cho CSKD tự kiểm tra, tính 6 thuế, kê khai, nộp thuế. Đăng ký mã số thuế, kê khai, nộp thuế theo phương pháp khấu trừ buộc người tiêu dùng và người bán HHDV tuân thủ quy định hóa đơn, chứng từ trong thanh toán.
Thuế GTGT được ban hành, sửa đổi, bổ sung gắn với sửa đổi một số loại thuế khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu góp phần hoàn thiện hệ thống thuế Việt Nam, làm hệ thống chính sách thuế phù hợp thông lệ quốc tế, hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới. Thúc đẩy lưu thông hàng hóa Luật thuế GTGT thúc đẩy sản xuất phát triển, lưu thông hàng hóa, đẩy mạnh xuất khẩu. Luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành HHDV giảm vì thuế GTGT hạch toán riêng không tính vào giá thành, nếu đáp ứng đủ điều kiện còn được khấu trừ, hoàn thuế. Khi áp dụng thuế GTGT giá cả các loại HHDV không thay đổi hoặc thay đổi không đáng kể, mức sản xuất của doanh nghiệp, khả năng tiêu dùng của người dân không sụt giảm, hoặc chỉ thay đổi với tỷ lệ nhỏ trong thời gian đầu.
Thuế GTGT không phải nguyên nhân gây lạm phát hay khó khăn cho phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa mà đánh thuế GTGT góp phần ổn định giá cả, đẩy mạnh lưu thông hàng hóa, cung cấp dịch vụ vì chỉ vậy mới được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào. Khuyến khích xuất khẩu, nhập khẩu Luật thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước, cơ cấu kinh tế thị trường. Căn cứ Điều 9 Thông tư 219/2013/TT-BTC ban hành ngày 31/12/2013, hiệu lực ngày 1/1/2014: “ Thuế suất 0%: áp dụng đối với HHDV xuất khẩu; hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình ở nước ngoài và ở trong khu phi thuế quan; vận tải quốc tế; HHDV thuộc diện không chịu thuế GTGT khi xuất khẩu, trừ các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0%”, trong đó thuế GTGT đầu vào được khấu trừ hoặc hoàn thuế. Nhà nước trợ giá giúp doanh nghiệp xuất khẩu tập trung nguồn hàng trong nước xuất khẩu, cạnh tranh với hàng hóa trên thị trường quốc tế.
7 HHDV xuất khẩu chịu thuế suất 0% khuyến khích cơ sở SXKD xuất khẩu. Luật thuế GTGT thúc đẩy nhập khẩu những mặt hàng như máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được không phải chịu thuế GTGT. Thúc đẩy chế độ hạch toán kế toán, sử dụng hóa đơn, chứng từ theo quy định và thanh toán qua ngân hàng Luật thuế GTGT tác động đến công tác quản lý của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho Cơ quan Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; tăng cường hạch toán kế toán, thúc đẩy mua bán HHDV đi kèm hóa đơn GTGT. Do yêu cầu kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập doanh nghiệp để nộp thuế GTGT đầu ra nên các doanh nghiệp chú trọng đến ghi chép sổ kế toán, quản lý, sử dụng hóa đơn chứng từ.
Người nộp thuế GTGT chấp hành tốt chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ, khi bán HHDV tính thuế GTGT đầu ra được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Đây là động lực thúc đẩy người bán và người mua thực hiện tốt chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ.5 Nội dung cơ bản của thuế GTGT 1. Đối tượng áp dụng Đối tượng chịu thuế Căn cứ Điều 2 Thông tư 219/2013/TT-BTC “Đối tượng chịu thuế GTGT là HHDV dùng cho SXKD và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả HHDV mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT.” Đối tượng không chịu thuế Căn cứ Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC (sửa đổi bởi Điều 8 Thông tư 151/TT-BTC, Điều 1 Thông tư 26/2015/TT-BTC, Điều 1 Thông tư 130/2016/TT-BTC, Điều 1 Thông tư 25/2018/TT-BTC) quy định 26 nhóm HHDV không chịu thuế GTGT: - Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. 8 - Sản phẩm là giống vật nuôi, cây trồng khâu nuôi trồng, nhập khẩu, kinh doanh thương mại.
- Tưới, tiêu nước; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp; dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp. - Sản phẩm muối sản xuất từ nước biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối i-ốt thành phần chính là Na-tri-clo-rua. - Nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do Nhà nước bán cho người đang thuê. - Chuyển quyền sử dụng đất.