CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề cơ bản về thuế 1. Khái niệm về thuế Trên thực tế thuế đã ra đời từ khi Nhà nước hình thành, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước. Từ đó đến nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về thuế được đưa ra: Theo kinh tế học thì thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công.
Theo tính chất pháp lý thì thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân được Nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp luật, nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước.Taylor (1963): “Thuế là sự đóng góp cưỡng bách của mỗi người cho Chính phủ để trang trải các khoản chi phí và quyền lợi chung, mà ít căn cứ vào các lợi ích riêng được hưởng”. Từ những quan điểm trên, ta có thể khái niệm chung về thuế như sau: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội”. Đặc điểm của thuế Thuế có những đặc điểm như sau: Tính bắt buộc SVTH: Trần Viết Giáng Châu 5 Khóa luận tốt nghiệp Theo nhà kinh tế học Joseph E. Stiglitz thì “Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ người này sang người kia: Trong khi tất cả những khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc”.Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Thị Liên (2007) Tính bắt buộc thể hiện ở chỗ, đối với người nộp thuế, đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho Nhà nước khi có đủ điều kiện mà không phải là quan hệ thanh toán dù trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng.
Đối với các cơ quan thu thuế, khi thay mặt Nhà nước thực hiện các hành vi nhất định cũng không được phép lựa chọn thực hiện hay không thực hiện hành vi thu thuế, có sự phân biệt đối xử đối với NNT. Tính pháp lý Tính pháp lý được thể hiện thông qua các quy định cần thiết về vi phạm, hình thức và các thủ tục, quy trình pháp lý liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế như: đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn nộp thuế và những chế tài mang tính cưỡng chế khác. Tính không hoàn trả trực tiếp Trước khi thu thuế, Nhà nước không hứa hẹn cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho NNT. Sau khi nộp thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho NNT.
Những lợi ích từ việc nộp thuế sẽ được hoàn trả gián tiếp thông qua các dịch vụ công cộng của Nhà nước cho cộng đồng và xã hội. Vai trò của thuế đối với Nhà nước, xã hội và nền kinh tế quốc dân Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước Đây là vai trò đầu tiên của thuế. Mỗi một loại thuế mà Nhà nước ban hành đều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho NSNN. Trong nền kinh tế thị trường thì vai trò này của thuế càng nổi bật bởi thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN.
Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất. Tỷ trọng các khoản thu từ thuế thường chiếm trên 80% tổng thu của ngân sách. Ở nước ta, nguồn thu từ thuế cũng thường chiếm từ 80% đến 90% tổng các khoản thu của NSNN. SVTH: Trần Viết Giáng Châu 6 Khóa luận tốt nghiệp Điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thuế là công cụ giúp ổn định giá cả thị trường và kiềm chế lạm phát Trong điều kiện kinh tế thế giới có nhiều biến động, khủng hoảng, suy thoái… và kinh tế trong nước vẫn đang trong giai đoạn phát triển, thị trường luôn có những biến động khó lường.
Để kiểm soát những biến động này, Nhà nước phải sử dụng kết hợp đồng thời nhiều biện pháp và chính sách, trong đó có sự tham gia của chính sách thuế. Trường hợp lạm phát làm cho giá cả tăng cao, Nhà nước có thể dùng biện pháp điều chỉnh tăng thuế để làm giảm bớt áp lực tăng cầu giả tạo, trên cơ sở đó điều chỉnh lại cân bằng quan hệ cung cầu. Trường hợp lạm phát nảy sinh từ nguyên nhân chi phí thì việc giảm thuế đối với các yếu tố đầu vào là cần thiết. Việc này nhằm giảm áp lực tăng chi phí và tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm, từ đó lập lại quan hệ cung cầu, ổn định giá cả thị trường.
Thuế có vai trò trong chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế Với việc thiết kế và xây dựng hệ thống chính sách thuế có phân biệt theo ngành, vùng khác nhau, Nhà nước có thể thúc đẩy phát triển nhiều ngành nghề kinh tế mũi nhọn, then chốt và các vùng kinh tế trọng điểm, góp phần khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chính sách thuế phân biệt theo các mức thuế suất cao thấp khác nhau đối với từng ngành nghề sản xuất kinh doanh, từng sản phẩm dịch vụ, tùy thuộc vào sự cần thiết cuẩ sản xuất và đời sống xã hội. Việc áp dụng các hình thức ưu đãi thuế đối với hàng hóa, dịch vụ phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế thường sẽ làm cho giá cả hàng hóa dịch vụ đó giảm xuống, khi đó lượng cầu sẽ tăng lên. Và để đáp ứng cho sự gia tăng về nhu cầu tiêu dùng, các DN sẽ mở rộng quy mô sản xuất nhằm thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Ngược lại, khi áp dụng mức thuế suất cao, giá cả tăng lên thì đồng nghĩa với việc giảm sút về cầu, thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh. Lúc đó, DN sẽ tìm lĩnh vực đầu tư mới để chuyển dịch cơ cấu kinh tế với mục đích sản xuất mặt hàng khác có thể tạo lợi nhuận nhiều hơn. SVTH: Trần Viết Giáng Châu 7 Khóa luận tốt nghiệp Thuế góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước Trong các công cụ bảo hộ thì thuế quan được coi là hàng rào bảo hộ linh hoạt và hiệu quả nhất nhằm điều hòa áp lực cạnh tranh. Thực tế, đối với các ngành sản xuất yếu kém trong nước, khả năng cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu kém cả về giá cả và chất lượng.
Nếu muốn duy trì và phát huy các ngành này buộc Nhà nước phải có chính sách bảo hộ nhất định để hạn chế được tính cạnh tranh gay gắt từ các mặt hàng nhập khẩu cùng loại, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước gia tăng sản xuất. Các chính sách bảo hộ mà Nhà nước đưa ra là áp dụng mức thuế suất cao đối với hàng nhập khẩu, thuế suất 0% đối với hàng xuất khẩu, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và thuế đối kháng… nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho những mặt hàng sản xuất trong nước và giảm bớt hoặc triệt tiêu lợi thế giá cả giữa hàng nhập khẩu và hàng nội địa. Điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước, thị trường tự điều chỉnh thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao, tạo ra hai cực đối lập nhau: một thiểu số người sẽ giàu có lên nhanh chóng, còn cuộc sống của đại bộ phận dân chúng ở mức thu nhập thấp. Do đó cần có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phân phối thu nhập, thực hiện công bằng xã hội… 1.
Thuế Giá trị gia tăng 1. Tổng quan về thuế Giá trị gia tăng “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được thu ở khâu tiêu thụ hàng hóa dịch vụ”.( Theo Luật Thuế giá trị gia tăng, 2008) Như vậy, thuế GTGT đánh trên phần giá trị mới được tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh. Vấn đề cơ bản là phải xác định được GTGT ở mỗi giai đoạn sản xuất SVTH: Trần Viết Giáng Châu 8 Khóa luận tốt nghiệp kinh doanh, có như vậy mới tính được một cách chính xác số thuế GTGT của giai đoạn đó. GTGT được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị HHDV bán ra với tổng giá trị HHDV mua vào tương ứng trong kỳ tính thuế: Tổng giá trị Tổng giá trị HHDV GTGT = - HHDV bán ra mua vào tương ứng GTGT của HHDV Thuế suất thuế GTGT Số thuế GTGT = x chịu thuế của HHDV đó 1.
Đặc điểm và vai trò của thuế GTGT 1.1 Đặc điểm a) Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lắp Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn nhưng chỉ thu phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ theo từng phân đoạn trong quá trình sản xuất, lưu thông trên thị trường và đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn bằng với số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Do vậy, thuế GTGT tránh được hiện tượng trùng lắp, tạo ra sự công bằng giữa các chủ thể trong hoạt động sản xuất kinh doanh, kích thích lưu thông hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng. b) Thuế GTGT có tính trung lập Thuế GTGT không phải yếu tố chi phí mà là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa dịch vụ và không bị ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế.
Nên dù lãi hay lỗ, doanh nghiệp cũng phải nộp thuế GTGT. Ngoài ra, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh bởi tổng số thuế của tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. Vì vậy , thuế GTGT không ảnh hưởng lớn đến mục tiêu khuyến khích hay hạn chế sản xuất kinh doanh theo ngành nghề cụ thể. SVTH: Trần Viết Giáng Châu 9 Khóa luận tốt nghiệp c) Thuế GTGT là thuế gián thu Thuế GTGT là loại thuế mà người nộp thuế không phải người chịu thuế.
Là số tiền mà người chịu thuế nộp cho Nhà nước thông qua hình thức người nộp thuế thu hộ.