chương 1 chúng ta có thể thấy được tính cần thiết của nguyên cứu, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng của đề tài kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần GENERGY. CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI DOANH NGHIỆP 2. Các nghiên cứu trước Trong nghiên cứu của Trần Thị Minh Trang (2021), khi tìm hiểu về kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Dệt sợi Đam San, tác giả đã trình bày cách thức công ty đang xây dựng dự toán chi phí sản xuất và giá thành dựa trên phương pháp thống kê kinh nghiệm tuy nhiên công ty vẫn chưa đi sâu vào phân tích chi phí sản xuất và giá thành để phục vụ cho nhu cầu quản trị tại doanh nghiệp. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Kim Bình (2023), “Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành tại công ty cổ phần sản xuất, thương mại TH” đã được thực hiện tại công ty cổ phần sản xuất, thương mại TH với số liệu năm 2023.
Thông qua các phương pháp thu thập dữ liệu, quan sát kết hợp với phương pháp phân tích và tổng hợp tác giả đã mô tả thực trạng kế toán CPSX và tính giá thành tại đơn vị. Vận dụng những kiến thức đã học tập và tham khảo trước đó tác giả đã so sánh với thực tế tại doanh nghiệp, đưa ra những nhận định sau quá trình phân tích và tổng hợp về ưu và nhược điểm của doanh nghiệp từ đó có những đề xuất giải pháp về việc xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí để phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung (2023), “ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dịch vụ tại chi nhánh Công ty TNHH Yusen Logistics Việt Nam” đã sử dụng phương pháp quan sát, thu thập dữ liệu từ dữ liệu của công ty, các Thông tư, Nghị định, các giáo trình bài giảng liên quan đến đề tài nghiên cứu để làm cơ sở cho phần lý thuyết cũng như phục vụ cho mục đích phân tích, đánh giá của tác giả về công tác chi phí, giá thành sản phẩm dịch vụ tại công ty TNHH Yusen Logistics Việt Nam. Sau khi nhận thấy những ưu điểm và nhược điểm tại công ty, tác giả đã đưa ra những giải pháp giúp giảm giá thành tuy nhiên những giải pháp được đưa ra còn khá chung, vẫn chưa cụ thể những giải pháp mà doanh nghiệp cần thực hiện.
6 Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Hồng Thu (2019), “ Hoàn thiện kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Vinatea Mộc Châu” sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu kết hợp với việc quan sát, phỏng vấn các nhà quản trị giúp tác giả hiểu rõ về hoạt động kinh doanh cùng những quy trình kế toán được thực hiện tại doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng thêm phương pháp tổng hợp và phân tích nhằm đưa ra các kiến nghị, giải pháp để cải thiện những điểm hạn chế và phát huy điểm mạnh của doanh nghiệp thông qua những phân tích dưới góc nhìn của kế toán tài chính và kế toán quản trị. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Bích Thùy (2023), “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH Inspiredology Studio” đã thực hiện nghiên cứu tại Công ty TNHH Inspiredology Studio với số liệu thông tin năm 2022. Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp các phương pháp khác như mô tả, quan sát, phân tích và tổng hợp để mô tả lại thực trạng kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành tại công ty, tiến hành so sánh với các dữ liệu và tài liệu tham khảo từ đó đưa ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác kế toán chi phí tại đơn vị và đưa ra các giải pháp liên quan đến chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty.
Luận văn thạc sĩ kế toán của tác giả Đỗ Ngọc Dũng (2021), “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Toàn Thắng” đã đưa ra những nguyên tắc, yêu cầu và giải pháp giúp công ty Toàn Thắng hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thông qua những ưu điểm và nhược điểm của công ty được tìm ra sau khi tác giả tiến hành tổng hợp và phân tích các dữ liệu được cung cấp từ công ty và các dữ liệu thu thập từ giáo trình, nghiên cứu tương tự trước đó; các Thông tư, Nghị định, chuẩn mực kế toán liên quan đến đề tài. Qua những nghiên cứu trên cho thấy việc kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm thường nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí, hoặc trong lĩnh vực sản xuất là nhiều còn đối với lĩnh vực cung cấp dịch vụ năng lượng hiện chưa có. Mà đối với đặc điểm của công ty dịch vụ về năng lượng việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cũng rất quan trọng và phức tạp về cách thức phân bổ chi phí cũng như tổng hợp chi phí sản xuất tùy vào cách thức phân bổ mà công ty cung cấp dịch vụ năng lượng lựa chọn. Do đó, tác giải thực hiện nghiên cứu thực nghiệm tại công 7 ty cổ phần Genergy - là một công ty về cung cấp dịch vụ năng lượng để làm rõ và bổ sung những lỗ hổng mà các nghiên cứu trước chưa được thực hiện.
Cơ sở lý thuyết về kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm 2. Những vấn đề chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 2. Khái niệm về CPSX và giá thành SP CPSX là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định. (Nguyễn Quỳnh Hoa, 2020) Giá thành SP là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa liên quan đến khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành.
(Nguyễn Quỳnh Hoa, 2020) Mối quan hệ giữa CPSX và giá thành sản phẩm. Quá trình sản xuất là một quá trình thống nhất. Tất cả những khoản chi phí phát sinh (phát sinh trong kỳ, kỳ trước chuyển sang) và các chi phí trích trước có liên quan đến khối lượng SP, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Nói cách khác, giá thành SP là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kế ở kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, SP đã hoàn thành trong kỳ này.
CPSX và giá thành SP những chỉ tiêu có quan hệ mật thiết với nhau trong một quá trình sản xuất, giống nhau về bản chất kinh tế nhưng khác nhau về mặt lượng và hình thái thể hiện (Nguyễn Quỳnh Hoa, 2020). CPSX trong một kỳ kế toán có liên quan đến SP đã hoàn thành trong kỳ và SP dở dang cuối kỳ. Chỉ tiêu SP chỉ tính cho sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ bao gồm các bộ phận: CPSX kỳ trước chuyển sang kỳ này, CPSX phát sinh trong kỳ này, nhưng phải loại trừ một phần CPSX chuyển sang kỳ sau (Nguyễn Quỳnh Hoa, 2020). Mối quan hệ giữa CPSX và giá thành SP thể hiện bằng công thức sau: Giá thành SPHT = CPSX kỳ trước + CPSX phát sinh - CPSX chuyển chuyển sang trong kỳ Sang kỳ sau 8 2.
Đối tượng tập hợp CPSX và tính giá thành SP Để tổng hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm được chính xác, kịp thời cần xác định đối tượng kế toán CPSX và đối tượng giá thành SP. Tổ chức kế toán quá trình sản xuất bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đó là giai đoạn theo dõi chi tiết CPSX phát sinh theo từng SP, nhóm SP, đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ, phân xưởng … và giai đoạn tính giá thành sản phẩm, chi tiết SP theo đơn vị tính giá thành quy định. Việc phân chia này nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý, kiểm tra và phân tích chi phí, yêu cầu hoạch toán kinh doanh nội bộ, theo đặc điểm quy trình công nghệ của từng doanh nghiệp và yêu cầu tính giá thành SP theo đơn vị tính giá thành quy định.
Xác định đối tượng kê toán CPSX là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chí phí làm căn cứ cho việc kiểm soát, tập hợp CPSX và phục vụ cho việc phí tỉnh giá thành. Xác định đổi tượng tính giá thành chính là việc xác định đối tượng mà hao phí vật chất được doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất đã được kết tinh đó nhằm định lượng hao phí cần được bù đắp cũng như tính kết quả kinh doanh. Trong thực tế đối tượng tính giá thành có thể là SP, bán thành phẩm hay công việc nhất định cần tính tổng giá thành và giá thành đơn vị. (Nguyễn Quỳnh Hoa, 2020) Đối tượng kế toán CPSX và đối tượng tính giá thành thường khác nhau, nhưng cũng có khi chúng đồng nhất.
Để xác định được chúng cần phải căn cứ vào các yếu tố sau: • Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất: - Đối với sản xuất giản đơn: đối tượng kế toán CPSX có thể là sản phẩm, toàn bộ quá trình sản xuất, nhóm sản phẩm; còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm cuối cùng. - Đối với sản xuất phức tạp: đối tượng kế toán CPSX có thể là: bộ phận, chi tiết sản phẩm; các giai đoạn chế biến; phân xưởng sản xuất; nhóm chi tiết, bộ phận sản phẩm. Còn đối tượng tính giá thành là SP cuối cùng hay bán thành phẩm ở từng bước chế tạo. • Loại hình sản xuất: 9 - Đối với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt với khối lượng nhỏ, đối tượng hạch toán chi phí là các đơn đặt hàng riêng biệt, còn đối tượng tính giá thành là SP của từng đơn đặt hàng.
- Đối với sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn: phụ thuộc vào quy trình công nghệ sản xuất (đơn giản hay phức tạp) mà đối tượng hạch toán CPSX có thể là SP, nhóm SP, chi tiết, nhóm chi tiết, giai đoạn công nghệ. Còn đối tượng tính giá thành có thể là SP cuối cùng hay bán thành phẩm.