CHƯƠNG 1: LY LUẬN CHUNG VE CONG TÁC KE TOÁN TÀI SAN CO DINH TRONG DOANH NGHIEP 1. Tổng quan đề tài nghiên cứu Tài sản có định luôn là một trong các tư liệu sản xuất quan trọng, đóng vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Chính vì vậy, trong xu thé phát triển kinh tế thị trường với nhiều yếu tố ảnh hưởng tới kết quả hoạt động và sự thành công của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần làm tốt hơn nữa công tác quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực quan trọng của mình, đặc biệt là đối với tài sản cố định. Kế toán tài sản cố định là một công cụ hữu ích giúp doanh nghiệp hiện thực hóa được những mục tiêu đề ra.
Chính vì vậy, trải qua quá trình hình thành và phát triển của kế toán tai Việt Nam, nhiều tác giả đã có những công trình nghiên cứu về kế toán tài sản cố định để góp phần đóng góp không nhỏ vào sự hoàn thiện của kế toán tài sản cô định trong các doanh nghiệp ở nước ta. Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nghiên cứu được một sô luận văn liên quan đến công tác kế toán tài sản cô định trong doanh nghiệp, cụ thể: + Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Thanh (2015) đề tài đã đưa ra được những điểm đạt được va vấn dé còn tồn tại, một số hạn chế trong công tác kế toán tài sản cố định trong Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH ) Toàn Mỹ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, trên phương diện kế toán tài chính như: việc tính và trích khấu hao, công tác sửa chữa, việc quản lý tài sản cố định của Công ty. Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán tài sản có định tại Công ty. Nội dung nghiên cứu tập trung đi sâu vào chỉ tiết phương pháp kế toán tài sản có định nhăm cung cấp thông tin hạch toán chính xác về tài sản cố định trên phương diện các chuẩn mực kế toán trong doanh nghiệp mà chưa thực sự xem xét được vai trò của kế toán quan trị trong kế toán tài sản cô định của doanh nghiệp.
14 + Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Dung (2014). Đề tài đưa ra thực trạng kế toán tài sản cố định hữu hình (TSCĐHH) tại các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tại thành phố Hải Phòng, đánh giá ưu điểm và những tồn tại trong các doanh nghiệp này. Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện về thời điểm ghi nhận TSCDHH, phương pháp tính khấu hao TSCDHH, hoàn thiện về kế toán sửa chữa lớn TSCDHH, thẻ TSCĐ và số chỉ tiết tài sản có định (TSCD) cũng như hoàn thiện về quản lý TSCDHH. + Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Huế (2015).
Luận văn đã hệ thống hóa kế toán tài sản cố định theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và sự tác động của chuẩn mực kế toán quốc tế. Đồng thời tác giả cũng đi sâu nghiên cứu thực trạng kế toán TSCD tai Công ty và từ đó có giải pháp đề xuất nhăm hoàn thiện kế toán TSCD tại công ty theo chuẩn mực kế toán hiện hành. + Theo nghiên cứu của Vũ Thị Hải Yến (2017). Luận văn đưa ra các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu về những kết quả đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại trong công tác kế toán tài sản cô định tại Ngân hàng này trên phương diện kế toán tài chính.
Từ đó luận văn đề xuất các ý kiến hoàn thiện kế toán tài sản cố định tại Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Việt Nam Thịnh Vượng. Các giải pháp hoàn thiện tập trung vào hoàn thiện về kế toán tài sản cố định theo quan điểm kế toán tài chính. Từ đó luận văn nêu lên các giải pháp có tính khả thi để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định trong Ngân hàng trên phương diện kế toán tài chính. Đồng thời luận văn cũng nêu lên các vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong các nghiên cứu tiếp theo là xem xét nghiệp vụ kế toán tài sản cố định dưới cả hai giác độ là kế toán quản trỊ và kế toán tải chính để có sự quan sát tổng thể về thực trạng tài sản có định của đơn vị và là cơ sở vững chắc cho các quyết định liên quan đến tài sản cố định mang lại hiệu quả cao hơn trong quan trị doanh nghiệp.
15 Có thé nhận thấy rang, các công trình nghiên cứu về van đề kế toán tài sản cố định trong các doanh nghiệp hiện nay còn đang chú trọng nhiều đến vai trò của kế toán tài sản cố định dưới giác độ kế toán tài chính về sự phản ánh chính xác về mặt thông tin giá trị còn lại của tài sản cô định. Đồng thời, hiện nay cũng chưa có dé tài nghiên cứu cụ thé nào xem xét các đặc điểm kế toán riêng biệt về kế toán tài sản cố định trong Công ty TNHH MTV Bình Minh. Xuất phát từ các lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Kế toán tài sản cố định tại Công ty TNHH MTV Bình Minh” làm dé tài nghiên cứu của luận văn. Những vấn đề chung về kế toán tài sản cố định trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm, đặc điểm và tiêu chuẩn ghỉ nhận tài sản cô định 1. Khái niệm và đặc điểm tài sản có định Để doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động sản xuất, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố như: tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao động. Tư liệu lao động phục vụ cho quá trình sản xuất sản phâm của doanh nghiệp, chúng không những không khác nhau về giá trị, giá trị sử dụng mà còn khác nhau về thời gian hoạt động. Đề thuận lợi cho việc quản lý, bảo tồn và phát triển đối với tư liệu lao động có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài như: nhà cửa, vật kiến trúc, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị.
được xếp thành một nhóm riêng gọi là tài sản cố định. Tài sản có định là các tư liệu lao động chủ yếu như nhà xưởng, máy móc, thiết bi, phương tiện vận tải,. có hình thái cụ thé, da dạng về kiêu dáng, phong phú về chủng loại, người ta có thể định dạng mô tả chúng, và còn có các tài sản không có hình thái hiện vật nhưng cũng tham gia vào nhiêu chu kỳ sản xuất kinh doanh như quyền sử dụng dat, phan mềm máy tinh,. Tuy nhiên không phải mọi tư liệu lao động đều là tài sản có định mà chỉ có những tài sản thỏa mãn các điều kiện của chuẩn mực kế toán và chế độ tài chính kế toán của nha nước quy định phù hợp trong từng thời kỳ.
Tài sản cố định có những đặc điểm như sau: Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà không thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị sử dụng và giá trị tài sản cố định bị giảm dần khi 16 tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh do sự hao mòn và giá trị hao mòn được chuyên dịch từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất ra. Và đối với tài sản cô định vô hình, khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh cũng bị hao mòn do tiến bộ khoa học kỹ thuật và do hạn chế về pháp luật. Gia tri của tài sản cô định vô hình cũng được dịch chuyên dân từng phân vào cái chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tiêu chuẩn ghi nhận tài san cố định Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC về “Hướng dẫn chế độ quản lý sử dụng và trích khâu hao tài sản cô định”: + Tiêu chuẩn đối với tài sản cố định hữu hình: Những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau thành một hệ thống dé cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định, nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thỏa mãn đồng thời cả bốn tiêu chuẩn dudi đây thì được coi là tài sản cô định: Chắc chăn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy; Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên;Có giá trị theo quy định hiện hành (hiện nay là từ 30.000 đồng trở lên).
Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cau thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cau quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản và mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thỏa mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của tài sản cô định thì được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập. Đôi với súc vật làm việc hoặc cho sản phâm, nêu từng con súc vật thỏa mãn đông thời bôn tiêu chuân của tài sản cô định đêu được coi là một tài sản cô định hữu hình. 17 Đôi với vườn cây lâu năm, nêu từng mảnh vườn cây, hoặc cây thỏa mãn đông thời bôn tiêu chuân của tài sản cô định thì cũng được coi là một tài sản cô định hữu hình. + Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định vô hình: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 thì TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình!.
Các tài sản được ghi nhận là TSCĐ vô hình phải thỏa mãn định nghĩa về TSCD vô hình và bốn tiêu chuẩn giống như tiêu chuẩn ghi nhận của TSCD hữu hình. TSCD vô hình không có hình thái vật chất cụ thé mà chỉ thé hiện một lượng giá tri đã đầu tư. Do đó, TSCĐ vô hình rất khó nhận biết một cách riêng biệt nên khi xác định nguồn lực vô hình thỏa mãn định nghĩa TSCD cần phải xem xét các yếu tố: Tinh có thé xác định được, khả năng kiểm soát nguồn lực và tính chắc chắn của lợi ích kinh tế trong tương lai. Trong tính có thể xác định được, tức là TSCD vô hình phải có thê được xác định một cách riêng biệt để có thê đem cho thuê, đem bán một cách độc lập.