Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾ TOÁN VÀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về kế toán doanh nghiệp 1. Khái niệm về kế toán Ke toán ra đời với vai trò là công cụ để ghi chép các hoạt động kinh tế và cung cấp thông tin cho việc quản lý này một cách có hiệu quả.
Trên thực tế, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán: Theo Kinh tế chính trị Mác-Lê nin: Kế toán là môn khoa học phản ánh và giám đốc các hoạt động kinh tế tài chính diễn ra ở các đơn vị. Mục đích của kế toán chính là giúp cho việc quản lý quá trình tái sản xuất ở từng đơn vị này chặt chẽ và hiệu quả hơn [7,tr. Quan điểm của Harison và Hornrgen cho rằng, kế toán là một hệ thống thông tin đo lường các hoạt động kinh doanh xử lý các dữ liệu để lập các báo cáo và truyền tải các kết quả này đến những người ra quyết định [6,tr. Theo Financial & Managerial Accounting: Kế toán là ngôn ngữ kinh doanh, nó được sử dụng rộng rãi để mô tả các hoạt động kinh doanh [6,tr.
Còn theo Khoản 8, Điều 3 của Luật kế toán số 88/2015/QH13 thì “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”. Cũng theo Luật kế toán số 88/2015/QH13, tại Khoản, Khoản 10 Điều 3 và Khoản 1 Điều 9 có quy định kế toán ở đơn vị kế toán gồm kế toán tài chính và kế toán quản trị, trong đó: - Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán. - Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin 7 kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán. Như vậy, Kế toán là quá trình thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản trong doanh nghiệp nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định về kinh tế - xã hội và đánh giá hiệu quả của các hoạt động trong doanh nghiệp 1.
Nhiệm vụ của kế toán Theo Điều 4, Luật kế toán số 88/2015/QH13, kế toán có các nhiệm vụ sau: - Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán. - Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán. - Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán. - Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật.
Đối tượng phản ánh của kế toán Để thực hiện được chức năng cơ bản của kế toán là cung cấp thông tin cho các nhóm đối tượng sử dụng thông tin khác nhau ra các quyết định kinh tế thì đối tượng phản ánh chung nhất của kế toán tài chính là vị thế tài chính, kết quả hoạt động và những thay đổi trong vị thế tài chính của đơn vị kế toán. Trong đó, vị thế tài chính của một đơn vị thể hiện ở những nguồn lực kinh tế mà nó kiểm soát, cơ cấu tài trợ, khả năng thanh khoản ngắn hạn và khả năng thanh toán dài hạn, hả năng thích nghi với những thay đổi trong môi trường hoạt động. Cụ thể, kế toán cung cấp các thông tin về: - Tình hình tài sản, cơ cấu tài sản, nguồn hình thành tài sản. - Kết quả hoạt động kinh doanh, cơ cấu thu nhập - chi phí.
- Thông tin về các luồng tiền, cách thức mà đơn vị tạo ra các luồng tiền và sử dụng tiền. - Các thông tin tài chính và phi tài chính khác. 8 Những nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể mang lại lợi ích trong tương lai được gọi là Tài sản. Quyền của các chủ nợ đối với khối tài sản doanh nghiệp là nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các chủ nợ đó nên được gọi là Nợ phải trả; quyền của các chủ sở hữu đối với khối tài sản của doanh nghiệp do những người sở hữu doanh nghiệp đóng góp mà hình thành nên gọi là Vốn chủ sở hữu.
Chính vì thế, theo giáo trình Nguyên lý kế toán của Học viện Ngân hàng, Nhà xuất bản Dân trí thì “đối tượng phản ánh của kế toán là tài sản trong mối quan hệ mật thiết với nguồn hình thành tài sản và trong sự vận động của nó”[6,tr. Các yêu cầu đối với thông tin kế toán Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS01 - Chuẩn mực chung) có đưa ra các yêu cầu đối với thông tin kế toán như sau: - Trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh. - Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo. - Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót.
- Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời,đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ. - Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong báocáo tàichính phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng. Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình. Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết minh.
- Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán. Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán. Các nguyên tắc kế toán cơ bản Dựa trên cơ sở các hướng dẫn trong quy định khung của Ủy ban chuẩn mực Ke toán quốc tế về các giả định cơ sở để lập BCTC và về các đặc điểm định tính của thông tin kế toán, VAS1- Chuẩn mực chung đã đưa ra 7 nguyên tắc kế toán cơ bản gồm: - Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
- Hoạt động Liên tục: Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình. Trường hợp thực tế khác với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên một cơ sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính. - Giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận.
Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể. - Phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó.
- Nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính. - Thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để 10 lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi: Thứ nhất: Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn; Thứ hai: Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập; Thứ ba: Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí; Thứ tư: Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí.
- Trọng yếu: Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính. Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính.