CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Kế toán quản trị đối với hoạt động ngân hàng 1. Kế toán quản trị và sự khác biệt với kế toán tài chính 1. Định nghĩa và nội dung KTQT Kế toán quản trị là loại kế toán dành cho những người làm công tác quản lý. Nó được coi là một hệ thống trợ giúp các nhà quản lý ra quyết định, là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp.
Có nhiều cách để hiểu và định nghĩa về KTQT. Theo hiệp hội kế toán quốc gia Mỹ (NAA – National Association of Accountants) thì: “KTQT là quá trình cung cấp thông tin cho nhà quản lý doanh nghiệp trong việc lập và thực hiện kế hoạch trong việc kiểm soát điều hành các hoạt động của doanh nghiệp. Quy trình KTQT bao gồm các công việc xác định cân đo, đong đếm, thu thập, tích lũy, phân tích, chuẩn bị các thông tin, giải thích và cung cấp các thông tin cho nhà quản lý để nhà quản lý xử lý các thông tin này theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp”. Theo luật Kế toán Việt Nam (năm 2003) và Thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Theo giáo trình KTQT của Học Viện Tài chính: “Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tin định lượng về hoạt động của đơn vị một cách cụ thể giúp các nhà quản lý trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị” Từ những khái niệm trên, cho thấy những điểm chung của kế toán quản trị là: - Là một hệ thống kế toán cung cấp các thông tin định lượng - Những người sử dụng thông tin là những đối tượng bên trong tổ chức/đơn vị - Mục đích sử dụng thông tin là để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức/đơn vị 4 Nội dung cơ bản của kế toán quản trị trong doanh nghiệp: Kế toán quản trị có nội dung rất rộng, sau đây là những nội dung cơ bản: - Nếu xét theo nội dung các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp, có thể khái quát kế toán quản trị doanh nghiệp bao gồm: + Kế toán quản trị các yếu tố sản xuất kinh doanh (bao gồm: Hàng tổn kho, tài sản cố định, lao động và tiền lương). + Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm (nhận diện, phân loại chi phí, giá thành; lập dự toán chi phí; tập hợp, tính toán, phân bổ chi phí, giá thành; lập báo cáo phân tích chi phí theo bộ phận, theo các tình huống quyết định…) + Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh (phân loại doanh thu; Xác định giá bán, lập dự toán doanh thu; tính toán, hạch toán chi tiết doanh thu, phân bổ chi phí sản xuất chung, xác định kết quả chi tiết; lập báo cáo phân tích kết quả chi tiết theo bộ phận, theo tình huống ra quyết định…) + Kế toán quản trị các khoản nợ + Kế toán quản trị về các hoạt động đầu tư tài chính + Kế toán quản trị các hoạt động khác của doanh nghiệp. Trong các nội dung nói trên trọng tâm của kế toán quản trị là lĩnh vực chi phí. Vì vậy, một số tác giả cho rằng kế toán quản trị là kế toán chi phí.
- Nếu xét quá trình kế toán quản trị trong mối quan hệ với chức năng quản lý, kế toán quản trị bao gồm các khâu: + Chính thức hóa các mục tiêu của doanh nghiệp thành các chỉ tiêu kinh tế + Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết + Thu thập, cung cấp thông tin về kết quả thực hiện các mục tiêu + Soạn thảo báo cáo kế toán quản trị Như vậy, thông tin của kế toán quản trị không chỉ là thông tin quá khứ, thông tin thực hiện mà còn bao gồm các thông tin về tương lai (kế hoạch, dự toán…), mặt khác thông tin kế toán quản trị không chỉ là các thông tin về giá trị còn bao gồm các thông tin khác (hiện vật, thời gian lao động…) 1. Phân biệt kế toán quản trị và kế toán tài chính Chức năng của kế toán là cung cấp thông tin về hoạt động của một đơn vị, một tổ chức nhưng do phạm vi cung cấp phục vụ thông tin khác nhau nên kế toán được 5 chia thành KTQT và kế toán tài chính, KTQT và kế toán tài chính giống và khác nhau ở những điểm cơ bản sau: a, Giống nhau: Thứ nhất: KTQT và kế toán tài chính đều đề cập đến các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hoặc các sự kiện kinh tế của doanh nghiệp, cả hai đều có yêu cầu định lượng các kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và đều nhằm hai mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp là lợi nhuận và khả năng trả nợ. Vì vậy, cả hai đều quan tâm đến thu nhập, chi phí, tài sản, nguồn vốn và quá trình luân chuyển tiền của doanh nghiệp Thứ hai: KTQT và kế toán tài chính đều được ghi chép dựa trên cơ sở hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán và đều cần các thông tin tác nghiệp chuẩn xác. Thứ ba: KTQT và kế toán tài chính đều có mối liên hệ trách nhiệm của các nhà quản lý.
KTQT biểu hiện trách nhiệm của nhà quản lý các cấp bên trong doanh nghiệp, kế toán tài chính biểu hiện trách nhiệm của nhà quản trị cấp cao nhất b, Khác nhau: Có nhiều trường phái khác nhau phân biệt kế toán tài chính và KTQT, nhưng có thể kết luận chúng có điểm khác nhau cơ bản sau: Tiêu thức phân biệt KTQT Kế toán tài chính Thông tin thích hợp và linh hoạt Thông tin phải khách quan Đặc điểm của thông phù hợp với vấn đề cần giải và có thẩm tra tin quyết Thước đo sử dụng Cả giá trị, hiện vật và thời gian Chủ yếu là thước đo giá trị Doanh nghiệp tự xây dựng, tự Phải tuân thủ theo các Các nguyên tắc sử triển khai, có tính linh hoạt. nguyên tác kế toán chung dụng trong việc lập không mang tính pháp lệnh đã được thừa nhận, mang báo cáo tính bắt buộc Các thành phần bên trong doanh Các thành phần bên ngoài nghiệp: Giám đốc, quản lý hội doanh nghiệp như các tổ Người sử dụng đồng quản trị, các giám sát chức tín dụng; đối thủ cạnh thông tin viên, quản đốc tranh; nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, người đầu tư tài chính; người lao động 6 Tiêu thức phân biệt KTQT Kế toán tài chính - Các báo cáo cung cấp, dự trữ - Bảng cân đối kế toán vật tư, hàng hóa… - Báo cáo kết quả kinh - Các báo cáo về quá trình sản doanh Các báo cáo kế toán xuất (tiến độ, chi phí, kết - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ chủ yếu quả…) - Thuyết minh báo cáo tài - Các báo cáo bán hàng (chi chính phí, giá vốn, doanh thu…) Kỳ báo cáo Ngày, tuần, tháng, quý, năm Quý, năm Phạm vi thông tin Gắn với các bộ phận trực thuộc Toàn doanh nghiệp doanh nghiệp Trọng tâm thông tin Kịp thời, thích hợp, linh động, Chính xác, khách quan, ít chú ý đến độ chính xác tổng thể Quan hệ với các Quan hệ nhiều Quan hệ ít môn học khác 1. Đặc điểm của hoạt động ngân hàng thương mại Các ngân hàng ngày nay đang phải chịu đựng những sức ép rất lớn, một mặt phải thực hiện được mục tiêu kinh doanh của mình, phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, nhân viên…, mặt khác lại phải đảm bảo rằng hoạt động kinh doanh của ngân hàng không vi phạm những quy định của pháp luật. Các nhà quản trị ngân hàng vì thế mà đứng trước các thử thách to lớn Nhận biết đúng những đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh ngân hàng là yếu tố rất quan trọng trong khi nghiên cứu cơ chế ra quyết định của nhà quản trị ngân hàng, bởi nó xác định về bản chất công việc được tiến hành thường xuyên tại các ngân hàng cũng như sự nhìn nhận tổng quan về môi trường làm việc của những nhà quản trị ngân hàng.
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận cung cấp một danh mục sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng nhất, trong đó sản phẩm dịch vụ chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và làm dịch vụ thanh toán. Trong nghị định 49/2000 thì NHTM là một tỏ chức tín dụng thực hiện toàn bộ 7 các nghiệp vụ ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan vì mục đích lợi nhuận. Do vậy hoạt động ngân hàng có một số đặc điểm khác biệt so với doanh nghiệp khác. - Trước hết, NHTM là một chủ thể kinh doanh, là một tổ chức thường xuyên nhận và kinh doanh tiền gửi.
Ngân hàng huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong xã hội và sử dụng các nguồn đó để cho vay, đầu tư sinh lời. Vì vậy mà vốn tự có của NHTM chiếm tỷ trọng không đáng kể so với quy mô tổng nguồn vốn. Đối với ngân hàng thì khách hàng nằm cả hai phía của bảng tổng kết tài sản. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng phải thỏa mãn đồng thời nhu cầu của 2 nhóm khách hàng là người gửi tiền và người vay tiền.
Do vậy mà ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong việc quyết định lựa chọn những phương án thỏa mãn tối đa lợi ích cho cả hai bên đồng thời cũng phải đảm bảo lợi ích cho chính mình. Đây là đặc điểm chính có tính phân biệt hoạt động của ngân hàng với các doanh nghiệp khác. - Với chức năng là một trung gian tài chính quan trọng, hoạt động của NHTM gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ và hệ thống thanh toán của một quốc gia - Hoạt động NHTM phong phú, đa dạng, phạm vi hoạt động rộng lớn, khối lượng giao dịch nhiều. Điều này xuất phát từ sự thay đổi liên tục thường xuyên với sự đòi hỏi ngày càng cao của xã hội và từ nhu cầu của ngân hàng là tối đa hóa lợi nhuận - Hoạt động NHTM là lĩnh vực kinh doanh mang tính hệ thống cao, chịu sự quản lý nghiêm ngặt của nhà nước.