CHƯƠNG 1 CƠ SỞ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. CHỨC NĂNG, VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Chức năng của KTQT chi phí trong doanh nghiệp sản xuất Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán, thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp. Chính vì thế, chức năng KTQT chi phí mang đầy đủ các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp: chức năng phân tích chi phí, chức năng hoạch định chi phí, chức năng kiểm tra và đánh giá chi phí và chức năng ra quyết địnhsản xuất - kinh doanh.
Chức năng phân tích chi phí Chức năng phân tích chi phí được định hướng vào việc tính toán, phân tích các chi phí, kết quả và các mối tương quan giữa chúng. Với chức năng này trước hết chi phí được phân tích theo từng hàng hóa, dịch vụ sau đó được phân theo chức năng hoạt động như khâu mua, khâu bán, khâu dự trữ và theo các loại chi phí [5, tr. Chức năng hoạch định chi phí Hoạch định chi phí là việc lập các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn liên quan đến chi phí hoạt động sản xuất – kinh doanh. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều được tiến hành theo các chương trình định trước trong các kế hoạch chi phí.
Kế hoạch đó do nhà quản trị đưa ra thường có dạng dự toán (chủ yếu dự toán chi phí và dự toán lợi nhuận) để liên kết các mục tiêu và chỉ rõ các bước, cách thực hiện để đạt được các mục tiêu đề ra. Kế hoạch chi phí là cơ sở để định hướng, kiểm tra và đánh giá hoạt động sản xuất - kinh doanh. Luan van 6 Vì thế, kế hoạch chi phí phải được xây dựng trên những căn cứ khoa học, trong đó việc phân tích những thông tin thực hiện của quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng [5, tr. Chức năng kiểm tra, đánh giá chi phí Kế toán quản trị chi phí đóng vai trò kiểm tra chi phí phát sinh trước, trong và sau quá trình hoạt động kinh doanh.
Sau khi lập kế hoạch đầy đủ và hợp lý, tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động kinh doanh, đòi hỏi kiểm tra việc thực hiện bằng cách so sánh số liệu chi phí giữa kỳ kế hoạch với kỳ thực hiện nhằm phát hiện các chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch. Sau đó, nhà quản trị phân tích chi phí để nhận diện những nguyên nhân tác động đến sự biến động chi phí cũng như vấn đề tồn tại và đề ra giải pháp giải quyết chúng. Chức năng ra quyết định sản xuất - kinh doanh Thông tin kế toán là nhân tố rất quan trọng trong việc ra quyết định sản xuất – kinh doanh. Do đó, KTQT chi phí có trách nhiệm thu thập các số liệu về chi phí, lợi nhuận và truyền đạt thông tin thích hợp cho nhà quản trị để ra các quyết định chi phí phù hợp: chi phí hoạt động mua hàng, chi phí đơn giá công,.
Trên cơ sở đó, nhà quản trị đưa ra những quyết định kinh doanh: sản xuất sản phẩm nào, tiêu thụ ở mức nào, sản xuất hay thực hiện gia công,. phục vụ cho hoạt động SX – KD của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Vai trò của KTQT chi phí trong doanh nghiệp sản xuất KTQT chi phí cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp trong việc thực hiện các chức năng quản lý. Từ kế hoạch chung của doanh nghiệp, các bộ phận triển khai thành các mục tiêu thực hiện và kiểm tra kết quả thực hiện các mục tiêu này.
Đó chính là quản lý - kiểm tra hướng hoạt động của doanh nghiệp. Luan van 7 KTQT chi phí còn phản ánh thông tin thực hiện và xử lý thông tin thực hiện giúp nhà quản trị tổ chức, thực hiện kế hoạch và xử lý thông tin thực hiện để kiểm tra quá trình thực hiện kế hoạch. Do đó, KTQT chi phí là công cụ chủ yếu để điều hành, quản lý hoạt động SX – KD theo kế hoạch đã đề ra. Như vậy, KTQT chi phí đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho quản lý cả trước, trong và sau quá trình kinh doanh (xem Sơ đồ 1.
Kiểm tra quản lý chi phí KTQT chi phí: công Kế hoạch SX - KD cụ đánh giá, kiểm tra, phân tích chi phí Quản lý các quy trình hành động Sơ đồ 1.1: Vai trò kế toán quản trị chi phí sơ đồ 1. NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Nhận diện chi phí theo yêu cầu của KTQT Nền sản xuất xã hội của bất cứ phương thức nào cũng gắn liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất. Hay nói cách khác, quá trình sản xuất hàng hóa là quá trình tiêu hao ba yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động.
Như vậy, để tiến hành sản xuất hàng hóa, người sản xuất phải bỏ chi phí về thù lao lao động, về tư liệu lao động và đối tượng lao động và sự hình thành nên chi phí và chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm là tất yếu, khách quan. Luan van 8 Chi phí hay chi phí sản xuất – kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất – kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý hoặc năm) [1, tr. Vậy chi phí sản xuất – kinh doanh biểu hiện ở mặt định tính và định lượng. Mặt định tính của chi phí sản xuất được biểu hiện là các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra bằng tiền hay vật hóa để sản xuất; mặt định lượng của chi phí sản xuất thể hiện ở mức độ tiêu hao cụ thể của từng loại chi phí và được biểu hiện bằng tiền.
Chi phí sản xuất – kinh doanh có rất nhiều loại nên cần thiết phải phân loại chi phí nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán chi phí. Phân loại chi phí là việc sắp xếp các loại chi phí khác nhau vào từng nhóm theo những đặc trưng nhất định. Trên thực tế có rất nhiều cách phân loại chi phí khác nhau, tùy thuộc vào nhu cầu quản lý và hạch toán mà lựa chọn tiêu thức phân loại cho phù hợp [1, tr. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động Đặc điểm của cách phân loại chi phí theo chức năng hoạt động là căn cứ vào chức năng của chi phí đối với quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Đây là cách phân loại được áp dụng trong kế toán tài chính và vẫn được áp dụng trong kế toán quản trị để quản trị chi phí theo khoản mục. Một cách tổng quan, chi phí của doanh nghiệp được phân thành hai loại lớn: chi phí sản xuất và chi phí xác định lợi nhuận. Chi phí sản xuất của doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động sản xuất sản phẩm. Do vậy, những chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất sản phẩm mới được gọi là chi phí sản xuất.
Dựa vào chức năng của chi phí đối với quá trình sản xuất, chi phí sản xuất được phân thành ba loại sau: Luan van 9 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (chi phí NVLTT): là biểu hiện bằng tiền những nguyên liệu chủ yếu tạo thành thực thể của sản phẩm như gỗ, sắt, … Chi phí này được tính thẳng vào các đối tượng chịu chi phí. Chi phí nhân công trực tiếp (chi phí NCTT): là chi phí về tiền lương, tiền công phải trả và các khoản trích theo lương (kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp) của công nhân trực tiếp tham gia vào quá trình chế tạo sản phẩm. Chi phí nhân công này được tính trực tiếp vào các đối tượng chịu phí. Chi phí sản xuất chung (chi phí SXC): là những chi phí phát sinh ở phân xưởng sản xuất để sản xuất ra sản phẩm nhưng không thuộc hai thể loại chi phí trên.
Chi phí này bao gồm: chi phí nhân viên, chi phí công cụ dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao TSCĐ nhà xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác, … Những chi phí gắn liền với hoạt động quản lý sản xuất và phục vụ sản xuất tại phân xưởng mới được xếp vào loại chi phí này. Những loại thuộc chi phí này được phân bổ vào sản phẩm để tính giá thành sản xuất. Phân loại chi phí theo kiểu này có tác dụng cho thấy vị trí, chức năng từng khoản mục chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, là căn cứ để tập hợp chi phí theo từng hoạt động chức năng và là cơ sở để tính giá thành sản phẩm và cung cấp thông tin có hệ thống cho việc lập báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị. Mối quan hệ giữa các khoản chi phí theo cách phân loại dựa vào chức năng hoạt động được minh họa bằng sơ đồ 1.
Luan van 10 Chi phí NVL Trực tiếp Chi phí NVL trực tiếp Chi Chung phí sản Chi phí khác Chi phí SXC xuất Chung Chi phí nhân Chi phí nhân công Trực tiếp công trực tiếp Sơ đồ 1.2: Tóm tắt chi phí sản xuất Chi phí xác định lợi nhuận (chi phí thời kỳ) là những chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất liên quan đến việc quản lý chung và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa. Chi xác định lợi nhuận được chi thành hai loại dưới đây [5, tr. 20]: Chi phí bán hàng là toàn bộ chi phí phát sinh cần thiết để đảm bảo việc thực hiện các đơn hàng, giao nhận thành phẩm cho khách hàng. Chi phí này bao gồm các khoản chi phí như: chi phí vận chuyển, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí bao bì, … Loại chi phí này xuất hiện ở tất cả các loại hình doanh nghiệp (sản xuất, thương mại, dịch vụ, …).
Chi phí quản lý doanh nghiệp là những khoản chi phí chi ra cho việc tổ chức và quản lý sản xuất cho toàn doanh nghiệp. Đó là những chi phí như chi phí công cụ văn phòng, khấu hao TSCĐ, … Tất cả các doanh nghiệp đều có loại chi phí này.