CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 1. Khái niệm kế toán quản trị chi phí Trên thế giới, kế toán quản trị là một lĩnh vực được chú ý nghiên cứu và phát triển. Một số nước đã thành lập Hiệp hội các nhà kế toán quản trị, thành lập Viện kế toán quản trị và xuất bản tạp chí riêng.
Tại Mỹ các nghiên cứu cho thấy kế toán quản trị xuất hiện đầu tiên vào những năm đầu của thế kỉ XIX. Sự phát triển mạnh cả về quy mô và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp trong giai đoạn này đặt ra yêu cầu cho các nhà quản trị phải kiểm soát và đánh giá được hoạt động của chúng. Để xác định được hiệu quả sản xuất các sản phẩm cụ thể và đánh giá được kết quả hoạt động của các bộ phận, những doanh nghiệp đã áp dụng hệ thống kế toán theo dõi tình hình sử dụng vật tư, chi phí nhân công và các chi phí trực tiếp phát sinh hàng ngày. Để kiểm soát thu, chi trên địa bàn rộng lớn những công ty này đã chia kế toán thành hai bộ phận theo dõi chi phí và thu nhập theo từng khu vực để lập báo cáo cho các nhà quản trị.
Ở Châu Á, sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, cùng với sự phát triển của các trường phái quản trị theo kiểu Nhật Bản, kế toán quản trị cũng được hình thành để phục vụ cho nhu cầu thông tin của các nhà quản trị doanh nghiệp. Các phương pháp kế toán quản trị theo kiểu Nhật Bản được nói nhiều đến là Target costing và Kaizen costing. Nghiên cứu sự phát triển của kế toán quản trị cho thấy, kế toán quản trị hình thành và phát triển xuất phát từ nhu cầu thông tin quản trị doanh nghiệp. Môi trường cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp mở rộng, phát triển thị trường, giảm chi phí để nâng cao lợi nhuận.
Kế toán quản Luan van 7 trị là công cụ hữu hiệu cho phép các nhà quản trị kiểm soát quá trình sản xuất, đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận trong doanh nghiệp để có các quyết định phù hợp và hiệu quả. Ở Việt Nam, kế toán quản trị là một lĩnh vực tương đối mới mẻ. Kế toán quản trị mới chỉ được nhắc đến và đưa vào giảng dạy trong các trường đại học ở nước ta trong khoảng 10 năm trở lại đây. Phần lớn các doanh nhân còn xa lạ với kế toán quản trị và nhầm lẫn kế toán này với kế toán chi phí.
Mặc dù đều nhằm mục đích thông tin cho các nhà quản trị nhưng có sự khác nhau về mục đích và phạm vi giữa hai loại kế toán này. Mục đích của kế toán chi phí là để xác định giá thành trong khi đó kế toán quản trị lại căn cứ vào giá thành để quyết định có sản xuất hay không. Đối với kế toán chi phí, giá thành là kết quả của việc thực hiện các quyết định của nhà quản trị. Ngược lại, giá thành trong kế toán quản trị chỉ là cơ sở để ra quyết định kinh doanh.
Thực tế ở nước ta, mặc dù các phương pháp hạch toán chi phí, tính giá thành đã được giảng dạy trong các trường đại học nhưng trong các doanh nghiệp việc sử dụng các thông tin do kế toán cung cấp cho quản trị doanh nghiệp còn hạn chế. Việc hạch toán trong các doanh nghiệp vẫn mang tính hình thức, đối phó. Mọi tập trung vẫn dồn vào chế biến số liệu để có được báo cáo tài chính tốt, doanh nghiệp giảm được thuế phải nộp. Kế toán quản trị ở nước ta hiện nay vẫn chưa được quan tâm đầy đủ tương xứng với vị trí và vai trò của nó trong quản trị doanh nghiệp.
Có nhiều quan điểm và nhiều góc độ khác nhau để tiếp cận khái niệm kế toán quản trị.Kaplan, Trường đại học Harvard Business school, trường phái kế toán quản trị Mỹ: "Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong các tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức". Ở góc độ này, kế toán quản trị là công cụ gắn liền với hoạt động quản trị của tổ chức. Theo GS Luan van 8 Bouquin, Đại học Paris-Dauphin, trường phái kế toán quản trị Pháp: "Kế toán quản trị là một hệ thống thông tin định lượng cung cấp cho các nhà quản trị đưa ra các quyết định điều hành các tổ chức nhằm đạt hiệu quả cao". Theo quan điểm này kế toán quản trị là công cụ cung cấp thông tin cho các nhà quản trị để đưa ra quyết định điều hành nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao.
Theo Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ: "Kế toán quản trị là một quy trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính cho các nhà quản trị để điều hành các hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn". Trong đó thông tin tài chính và phi tài chính bao gồm: Thông tin về chi phí sản phẩm hoặc dịch vụ cung cấp của doanh nghiệp, quá trình lập dự toán cung cấp thông tin cho việc xây dựng kế hoạch và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch hướng đến các mục tiêu thị trường của doanh nghiệp, thiết kế để lập các báo cáo và phân tích các báo cáo cung cấp các thông tin đặc thù để giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định kinh doanh nhằm đạt hiệu quả sư dụng vốn. Theo Luật kế toán Việt năm năm 2003: " Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin về kế toán tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán". Các khái niệm tuy khác nhau về hình thức nhưng có chung một số điểm cơ bản Kế toán quản trị là: Công cụ không thể thiếu trong một doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh vì nó là cơ sở khoa học của việc ra quyết định kinh doanh, là một bộ phận cấu thành hệ thống kế toán trong doanh nghiệp và thông tin kế toán quản trị giúp cho nhà quản trị hoạch định thực hiện lập kế hoạch, thực hiện, kiểm tra, giám sát, đánh giá và ra quyết định.
Tóm lại, Kế toán quản trị là một môn khoa học thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích, cung cấp các thông tin định lượng kết với định tính về hoạt động của doanh nghiệp giúp các nhà quản trị ra quyết định trong việc lập kế Luan van 9 hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện các các đơn vị. Trong đó, kế toán quản trị chi phí là một phần hành của kế toán quản trị nói chung. Bản chất kế toán quản trị chi phí Các tổ chức trong xã hội dù thuộc nhóm nào cũng đều cần thông tin kế toán để tồn tại, hoạt động và phát triển. Tổ chức doanh nghiệp cần thông tin kế toán để theo dõi chi phí và kết quả kinh doanh trong từng kỳ hạch toán; tổ chức Nhà nước cần thông tin kế toán để đánh giá mức độ cung cấp các dịch vụ phục vụ cộng đồng; tổ chức phi lợi nhuận cần thông tin kế toán để theo dõi hoạt động của tổ chức, xác định mức độ phục vụ xã hội.
Như vậy, đối với bất cứ một tổ chức nào thì thông tin kế toán đều có vai trò quan trọng, không thể thiếu đối với hoạt động của tổ chức đó và chính thông tin kế toán lại có ảnh hưởng quyết định đến mức độ đạt được của các mục tiêu. Cùng với sự ra đời của bút toán kép và việc sử dụng thước đo tiền tệ thống nhất, con người đã tạo cho thông tin kế toán có thêm nhiều chức năng mới. Thông tin kế toán từ chỗ chỉ mang tính chất sử liệu đã mang tính chất tư vấn và đặc biệt còn trở thành khoa học dự đoán - một khoa học cho phép thu được những quyết định quản lý tối ưu. Có hai loại đối tượng sử dụng thông tin kế toán là bên ngoài tổ chức và nội bộ tổ chức.
Đối tượng sử dụng thông tin kế toán bên ngoài tổ chức là các cổ đông, ngân hàng, nhà cung cấp, khách hàng, cơ quan thuế, … Đối tượng sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ tổ chức là các nhà quản lý các cấp (ban giám đốc và lãnh đạo các bộ phận) trong tổ chức. Mặc dù cần đến thông tin về cùng một tổ chức, nhưng hai loại đối tượng này cần những thông tin với các tính chất khác nhau. Bên ngoài tổ chức cần thông tin tổng quát về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh tế của tổ chức. Các nhà quản lý trong nội bộ trong tổ chức cần thông tin chi tiết theo từng mặt hoạt động nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động và thiết lập kế hoạch trong tương lai cho tổ chức.
Luan van 10 Để cung cấp thông tin cho cả hai loại đối tượng này hệ thống kế toán trong tổ chức được chia thành hai bộ phận: hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kế toán quản trị. Kế toán tài chính chủ yếu cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý bên ngoài tổ chức, còn kế toán quản trị hướng tới mục tiêu cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý trong nội bộ tổ chức. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí phát sinh ở tất cả các giai đoạn hoạt động, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy, thông tin chi phí giữ vai trò quan trọng trong hệ thống thông tin hoạt động của doanh nghiệp.
Dưới góc độ kế toán tài chính, bộ phận kế toán chi phí có chức năng tính toán, đo lường chi phí phát sinh trong tổ chức theo đúng các nguyên tắc kế toán để cung cấp thông tin về giá trị thành phẩm, giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động trên các báo cáo kế toán. Dưới góc độ kế toán quản trị, bộ phận kế toán chi phí có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ; các hoạt động và các bộ phận của tổ chức phục vụ cho các quyết định quản trị sản xuất, định hướng kinh doanh, thương lượng với khách hàng, điều chỉnh tình hình sản xuất theo thị trường; phục vụ tốt hơn quá trình kiểm soát chi phí, đảm bảo tính tiết kiệm, hiệu quả và gia tăng năng lực cạnh tranh.