CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về kế toán Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về hàng tồn kho Theo chuẩn mực kế toán số 02 – Hàng tồn kho Hàng tồn kho: Là những tài sản: (a) Được giữ để bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường; (b) Đang trong quá trình sản xuất, kinh doanh dở dang. (c) Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ.
Hàng tồn kho bao gồm: - Hàng hóa mua về để bán: Hàng hóa tồn kho, hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi đi bán, hàng hóa gửi đi gia công chế biến. - Thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán. - Sản phẩm dở dang: Sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn thành chưa làm thủ tục nhập kho thành phẩm. - Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho, gửi đi gia công chế biến và đã mua đang đi trên đường.
- Chi phí dịch vụ dở dang.2 Khái niệm về Nguyên vật liệu Nguyên vật liệu là một phần của hàng tồn kho sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ nó bao gồm cả vật liệu tồn kho, vật liệu gửi đi gia công chế biến và vật liệu đã mua đang đi trên đường. Ngoài ra còn có một số khái niệm khác về nguyên vật liệu như: - Nguyên liệu, vật liệu của doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. (TT 200/2014/BTC – Hướng dẫn tài khoản 152 – Nguyên liệu, vật liệu) - Nguyên vật liệu là đối tượng lao động đã được thay đổi do lao động có ích tác động vào nó. Nguyên vật liệu là đối tượng lao động nhưng không phải bất cứ một đối 5 Luan van tượng lao động nào cũng là nguyên vật liệu mà chỉ trong điều kiện đối tượng lao động mà do lao động làm ra thì mới hình thành nguyên vật liệu.
Một số khái niệm khác có liên quan Giá trị thuần có thể thực hiện được: Là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng. Giá hiện hành: Là khoản tiền phải trả để mua một loại hàng tồn kho tương tự tại ngày lập bảng cân đối kế toán.2 Lý thuyết liên quan đến kế toán Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.1 Đặc điểm Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp. Nguyên liệu, vật liệu là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến cần thiết trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Đặc điểm của vật liệu là chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định và trong qúa trình đó vật liệu sẽ bị tiêu hao toàn bộ hoặc bị biến đổi hình thái vật chất ban đầu để cấu thành thực thể của sản phẩm.
Về mặt giá trị, do chỉ tham vào một chu kỳ sản xuất nhất định nên giá trị của nó được tính hết vào chi phí kinh doanh trong kỳ.2 Phân loại nguyên liệu, vật liệu: Nguyên vật liệu của doanh nghiệp gồm nhiều loại do vậy cần thiết phải tiến hành phân loại vật liệu nhằm quản lý và sử dụng vật liệu một cách có hiệu quả .Vật liệu có thể phân loại căn cứ vào vai trò và chức năng thành các loại sau : - Nguyên vật liệu chính: là những nguyên liệu, vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất nó cấu thành thực thể chính của sản phẩm. Chúng ta cũng cần phân biệt giữa nguyên liệu và vật liệu. Nguyên liệu là sản phẩm của công nghiệp khai thác hay nông nghiệp được đưa vào qúa trình sản xuất để chế biến thành sản phẩm khác như cá trong ngành chế biến, bông trong ngành công nghiệp sợi …Vật liệu chính là sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến được đưa vào quá trình sản xuất để tiếp tục chế biến thành sản phẩm chẳng hạn sợi được đưa vào công nghiệp dệt…Ngoài ra nguyên vật liệu chính còn bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất để chế tạo ra sản phẩm hàng hóa. - Vật liệu phụ: là những bộ phận vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà có thể kết hợp với nguyên vật liệu 6 Luan van chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm được tiến hành một cách bình thường, hoặc phục vụ cho nhu cầu công nghệ, kỹ thuật, phục vụ cho lao động chẳng hạn như : xà phòng, dầu máy, mỡ bôi trơn … - Nhiên liệu: Về thực chất là một loại vật liệu phụ, nhưng có tác dụng cung cấp nhiệt cho quá trình chế tạo sản phẩm có thể diễn ra bình thường như : xăng, gaz, than - Phụ tùng thay thế: Là những loại vật tư dùng để thay thế sửa chữa máy móc thiết bị, phương tiện vận tải sản xuất.
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản : là những loại vật liệu và thiết bị được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản. Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp, không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt và các công trình XDCB. - Phế liệu : là những vật liệu được thải ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chúng đã mất hết hoặc phần lớn tính năng sử dụng như : vải vụn, bã mía, nang mực…… Căn cứ vào nguồn gốc, nguyên vật liệu được chia thành: - Nguyên vật liệu mua ngoài: thu mua từ thị trường trong nước, nhập khẩu. - Nguyên vật liệu tự gia công chế biến.
- Nguyên vật liệu nhận góp vốn liên doanh. Căn cứ vào mục đích và nơi sử dụng, nguyên vật liệu được chia thành: - Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất kinh doanh - Nguyên vật liệu dùng cho công tác quản lý - Nguyên vật liệu dùng cho các mục đích khác Trong thực tế việc sắp xếp nguyên vật liệu phải căn cứ vào thực tế ở từng đơn vị cụ thể vì có những thứ ở đơn vị này là vật liệu chính nhưng ở đơn vị khác lại là vật liệu phụ hoặc là nhiên liệu. Để phục vụ tốt hơn yêu cầu công tác quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu cần phải biết được một cách cụ thể đầy đủ số hiện có và tình hình biến động của từng thứ nguyên vật liệu được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.3 Phương pháp hạch toán Nguyên vật liệu Theo đặc điểm hàng tồn kho trong doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp có phương pháp kiểm kê và ghi nhận hàng tồn kho khác nhau. Doanh nghiệp có thể kiểm kê và ghi nhận hàng tồn kho theo từng nghiệp vụ nhập xuất hoặc chỉ kiểm kê và ghi nhận vào thời điểm cuối kỳ.
Theo đó có hai phương pháp tổ chức kế toán hàng tồn kho là: - Phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX) - Phương pháp kiểm kê định kỳ (KKDK) Phương pháp kê khai thường xuyên Là phương pháp tổ chức theo dõi, phản ánh thường xuyên, liên tục có hệ thống tình hình nhập xuất tồn kho nguyên vật liệu trên sổ kế toán. Với phương pháp KKTX các tài khoản Nguyên vật liệu được dùng để phản ánh số hiện có và tình hình biến động tăng giảm Nguyên vật liệu, giá trị Nguyên vật liệu có thể xác định tại bất kỳ thời điểm nào trong kỳ. Cuối kỳ kế toán căn cứ vào số liệu kiểm kê thực tế so sánh với số liệu tồn kho trên sổ kế toán. Theo nguyên tắc số liệu tồn kho thực tế luôn phù hợp với số liệu trên sổ kế toán.
Tuy nhiên có thể phát sinh chênh lệch, kế toán phải xác định nguyên nhân và xử lý theo quy định của cấp có thẩm quyền. Phương pháp KKTX giúp cho việc quản lý chặt chẽ tình hình biến động Nguyên vật liệu và cung cấp thông tin kịp thời cho nhà quản lý về cả giá trị và số lượng hàng tồn kho. Phương pháp này có nhược điểm là khối lượng công việc lớn, chi phí hạch toán cao, thường được áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, doanh nhiệp xây lắp và các doanh nghiệp thương mại kinh doanh các mặt hàng lớn: máy móc, thiết bị. Phương pháp kiểm kê định kỳ Là phương pháp căn cứ vào kế hoạch kiểm kê thực tế để phản ánh giá trị Nguyê vật liệu tồn kho cuối kỳ trên sổ kế toán từ đó xác định giá trị Nguyên vật liệu xuất trong kỳ theo công thức: Trị giá NVL Tổng trị giá Trị giá NVL Trị giá NVL = + - xuất trong kỳ NVL đầu kỳ nhập trong kỳ cuối kỳ 8 Luan van Theo phương pháp KKDK mọi biến động của NVL không theo dõi trên tài khoản kế toán NVL mà theo dõi trên tài khoản mua hàng.
Công tác kiểm kê NVL tiến hành cuối kỳ kế toán để xác định trị giá NVL thực tế làm căn cứ ghi sổ kế toán các tài khỏan Nguyên vật liệu. Đồng thời căn cứ vào trị giá NVL tồn cuối kỳ để xác định trị giá NVL xuất trong kỳ. Sử dụng phương pháp KKĐK các tài khoản kế toán NVL chỉ sử dụng để phản ánh trị giá NVL tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ kế toán. Chỉ ghi nhận biến động NVL một lần cuối kỳ kế toán nên phương pháp KKĐK làm giảm nhẹ công việc hạch toán.
Tuy nhiên việc cung cấp thông tin cho nhà quản lý không kịp thời, độ chính xác về giá trị NVL xuất dùng trong kỳ không cao, phụ thuộc nhiều vào công tác quản lý NVL của doanh nghiệp. Áp dụng đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những mặt hàng có nhiều chủng loại, có giá trị nhỏ, thường xuyên phát sinh nghiệp vụ nhập, xuất. Doanh nghiệp áp dụng một trong hai phương pháp tổ chức kế toán nguyên vật liệu trên và áp dụng nhất quán trong một niên độ kế toán.2 Nội dung kế toán Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất 1. Kế toán Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam 1.1 Chuẩn mực kế toán số 01- Chuẩn mực chung Chuẩn mực số 01 – Chuẩn mực chung (được ban hành và công bố theo QĐ số 165/2002/QĐ – BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng BTC).