CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KẾ TOÁN NGUỒN KINH PHÍ HOẠT ĐỘNG TẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1. Những hiểu biết chung về bệnh viện công lập 1. Khái niệm bệnh viện công lập Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính Phủ về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp(ĐVSN) có thu, theo đó ĐVSN có thu là những đơn vị do Nhà Nước quyết định thành lập, hoạt động nhằm thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân. Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường, y tế, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm.
Nghị đinh số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính Phủ đưa ra khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập. ĐVSN công lập là đơn vị do cơ quan Nhà Nước quyết định thành lập, có dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng mở tại kho bạc Nhà Nước, có tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế Toán, hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế khác. Theo quy định nghị định của Nhà nước về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thì bệnh viện công lập là ĐVSN công lập trong lĩnh vực y tế có những đặc trưng cơ bản sau: - Có văn bản quyết định thành lập ĐVSN của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương - Là tổ chức hoạt động phi lợi nhuận, nguồn tài chính đầu tư xây dựng chủ yếu từ ngân sách nhà nước 8 - Mục tiêu hoạt động là đem lại cho người dân dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất với chi phí hợp lý nhất, mang tính chất phúc lợi xã hội - Khám chữa bệnh cho người dân, đào tạo nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế. - Có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng được mở tại kho bạc Nhà nước, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật.
Đặc điểm, vai trò bệnh viện công lập Các bệnh viện công lập hoạt động trong ngành y tế với quy mô hoạt động khác nhau, đều có chung một số đặc điểm và vai trò chung nhất định như: Thứ nhất, các bệnh viện công lập hoạt động theo nguyên tắc cung cấp dịch vụ công phục vụ xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận. Nhà nước đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất cho các ĐVSN nhằm cung cấp các dịch vụ đặc biệt để hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt đồng bình thường, nâng cao dân trí, bảo đảm sức khỏe chất lượng nguồn nhân lực, không ngừng nâng cao đời sống sức khỏe, tinh thần, văn hóa cho nhân dân. Vì vậy quá trình hoạt động của các đơn vị bệnh viện công lập chủ yếu là cung cấp dịch vụ công thực hiện chức năng và nhiệm vụ do Nhà Nước giao đảm bảo sức khỏe cho nhân dân, chứ không phải nhằm mục tiêu lợi nhuận. Thứ hai, sản phẩm của bệnh viện công lập là sản phẩm mang lại lợi ích chung, mang tính bền vững, và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất.
Đại bộ phận sản phẩm của ĐVSN có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành, một lĩnh vực nhất định mà những sản phẩm khi được sử dụng tiêu dùng thường có tác dụng lan tỏa, truyền tiếp. Sản phẩm, dịch vụ của hoạt động y tế cơ bản là những “hàng hóa công cộng”, những hàng hóa này không chỉ có giá trị sử dụng mà còn có giá trị xã hội rất cao. Đối với hoạt động y tế mang lại sức khỏe, tri thức, những am hiểu cần thiết, sự phát triển toàn diện của con người – nhân tố quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã 9 hội đất nước. Vì vậy, hoạt động sự nghiệp y tế luôn gắn bó hữu cơ và có tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội.
Thứ ba, hoạt động của bệnh viện công lập luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội. Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức duy trì và bảo đảm hoạt động sự nghiệp y tế để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội. Để thực hiện mục tiêu xã hội nhất định, Chính Phủ thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như: chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình, chương trình phòng chống HIV/AIDS…với những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có nhà nước mà cụ thể là bệnh viện công lập mới có thể thực hiện hiệu quả mà không quan tâm đến lợi nhuận. Thứ tư, các bệnh viện công lập có nguồn thu hợp pháp từ hoạt động sự nghiệp y tế.
Nguồn tài chính cơ bản của bệnh viện là được Ngân sách Nhà nước cấp. Tuy nhiên với sự hoạt động đa dạng của bệnh viện cũng như những khó khăn của NSNN và với mục tiêu để đảm bảo tính hiệu quả trong các hoạt động của các đơn vị bệnh viện, Nhà nước đã cho phép bệnh viện công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính thông qua việc giao cho họ quyền được khai thác nguồn thu trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ, được bố trí một số khoản chi một cách chủ động. Phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế gồm: cơ sở khám chữa bệnh như bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế, cơ sở khám chữa bệnh thuộc các viện nghiên cứu, trường đại học; trung tâm truyền thông sức khỏe. Xét trên góc độ của công tác kế toán, có thể chia trong cùng một ngành theo hệ thống dọc thành các đơn vị dự toán: - Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách hàng năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc Uỷ ban nhân dân giao.
Đơn vị dự toán cấp I thực hiện phân bổ, giao dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới trực thuộc; 10 chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán và quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc theo quy định. - Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị dự toán cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán được giao cho đơn vị dự toán cấp III (trường hợp được ủy quyền của đơn vị dự toán cấp I), chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán và quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới theo quy định. - Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách, được đơn vị dự toán cấp I hoặc cấp II giao dự toán ngân sách, có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc (nếu có) theo quy định. - Đơn vị dự toán dưới cấp III được nhận kinh phí để thực hiền phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán với đơn vị dự toán cấp trên như quy định đối với đơn vị dự toán cấp III với cấp II, cấp II với cấp I.
Theo nghị định 16/2015/NĐ-CP căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyên tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính thành ba loại: - Những ĐVSN công lập tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên là những đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo toàn chi phí hoạt động thường xuyên, có mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị được tính lớn hơn hoặc bằng 100% Những ĐVSN công lập tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp, có mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị được tính từ 10% đến dưới 100% 11 Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp và ĐVSN không có nguồn thu được gọi là ĐVSN công lập do NSNN đảm bảo toàn bộc chi phí hoạt động có mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị tính dưới 10%. Cách xác định mức đảm bảo kinh phí hoạt động để phân loại ĐVSN: Mức tự đảm bảo chi phí hoạt Tổng số nguồn thu sự nghiệp động thường = x100% xuyên của bệnh Tổng số chi hoạt động thường xuyên viện (%) Việc phân loại các ĐVSN công lập với căn cứ mức độ tự chủ tài chính này được ổn định trong 3 năm. Sau thời hạn đó cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền sẽ tiến hành xem xét và phân loại lại cho phù hợp với đặc điểm quy mô hoạt động của đơn vị tại mỗi thời điểm. Tổ chức kế toán trong bệnh viện công lập 1.
Khái niệm tổ chức kế toán Theo giáo trình “Nguyên lý kế toán”, Trường đại học Lao động xã hội: “Tổ chức kế toán là việc tạo ra mối liên hệ theo trình tự nhất định giữa các yếu tố của hệ thống kế toán. Các yếu tố của hệ thống kế toán gồm: các nhân viên kế toán với năng lực chuyên môn; hệ thống chứng từ tài khoản, sổ sách và báo cáo kế toán; các phương pháp kế toán; các trang thiết bị sử dụng cho kế toán. Tổ chức kế toán là việc tạo ra mối liên hệ giữa các yếu tố trên nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của bộ máy kế toán.” Trên cơ sở các quan điểm trên, tác giả cho rằng tổ chức kế toán được hiểu như là một hệ thống các yếu tố cấu thành bao gồm tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán, kỹ thuật hạch toán để thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin; tổ chức vận dụng chính sách, chế độ, thể lệ 12 kế toán vào đơn vị nhằm đảm bảo công tác kế toán phát huy hết vai trò, nhiệm vụ của mình, giúp công tác quản lý và điều hành hoạt động có hiệu quả.