CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ 1. Khái quát về cung cấp dịch vụ và xác định kết quả kinh doanh 1. Khái niệm cung cấp dịch vụ và xác định kết quả kinh doanh Có nhiều khái niệm về dịch vụ, tuy nhiên dịch vụ có thể được hiểu theo hai cách dễ hiểu nhất sau. Theo luật giá năm 2013, “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”.
Còn theo kinh tế học, “Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng cách giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ”. Cung cấp dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (cung cấp dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho bên sử dụng dịch vụ (khách hàng) và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung cấp dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Xác định kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, được biểu hiện bằng số tiền lãi hay lỗ.
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh thông thường và kết quả hoạt động khác. Nhiệm vụ của kế toán doanh thu cung cấp dịch vụ và xác định kết quả hoạt động kinh doanh Nhằm phát huy vai trò của kế toán trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh, kế toán cung cấp dịch vụ và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp, cần thực hiện các nhiệm vụ sau: - Phản ánh, ghi chép kịp thời, đầy đủ tình hình cung cấp từng loại dịch vụ cho khách hàng cũng như cung cấp nội bộ. Trần Lê Trang Thu 5 Lớp K20CLCH Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng - Phản ánh, ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu, chi phí của từng hoạt động trong doanh nghiệp, đồng thời thường xuyên theo dõi, đôn đốc các khoản phải thu của khách hàng, đảm bảo thu đủ và kịp thời tiền hàng, tránh bị chiếm dụng vốn bất hợp lý. - Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập Báo cáo tài chính, định kì phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình cung cấp dịch vụ, xác định và phân phối kết quả.
- Phản ánh, tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, tình hình phân phối kết quả hoạt động. Vai trò của kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh Kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh có vai trò, ý nghĩa không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với đối tượng sử dụng thông tin kế toán ngoài doanh nghiệp. - Doanh thu là nguồn vốn quan trọng để doanh nghiệp trang trải các khoản chi phí về nguyên, nhiên vật liệu, đối tượng lao động đã hao phí trong quá trình SXKD, để trả lương, trả thưởng cho người lao động, trích BHXH, nộp thuế theo luật, là nguồn để doanh nghiệp tham gia góp vốn cổ phần, tham gia liên kết, liên doanh với các đơn vị khác. Vì vậy, việc hạch toán chính xác doanh thu sẽ đóng vai trò quan trọng giúp doanh nghiệp xác định hiệu quả sử dụng nguồn vốn.
- Trong công tác quản trị, chi phí sản xuất là một chỉ tiêu quan trọng được các nhà lãnh đạo quan tâm hàng đầu. Thông qua số liệu do bộ phận kế toán tổng hợp, các nhà quản trị có thể biết được kết quả thực tế từ đó đưa ra các quyết định quan trọng, các giải pháp hiệu quả, kịp thời phù hợp với sự phát triển của doanh nghiệp. - Ngoài doanh thu và chi phí thì xác định kết quả kinh doanh đóng một vai trò không kém phần quan trọng. Từ việc phản ánh, xác định kịp thời, chính xác kết quả kinh doanh, các nhà quản trị cũng như các tổ chức bên ngoài.
Nó có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển, khả năng cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh là thước đo giá trị chất lượng, phản ánh trình độ tổ chức và quản lý SXKD của doanh nghiệp. Trần Lê Trang Thu 6 Lớp K20CLCH Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng - Bên cạnh đó, số liệu về doanh thu và xác định kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp cung cấp là công cụ để Nhà nước nắm bắt được tình hình kinh doanh cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó thực hiện chức năng quản lý và kiểm soát nền kinh tế vĩ mô, kiểm tra việc chấp hành và thực hiện các quy định, nghĩa vụ đối với Nhà nước của doanh nghiệp. Nội dung kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp dịch vụ 1.
Kế toán doanh thu cung cấp dịch vụ 1. Nội dung kế toán doanh thu cung cấp dịch vụ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14: “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”. Trong đó doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu (Ví dụ: Khi người nhận đại lý thu hộ tiền bán hàng cho đơn vị chủ hàng, thì doanh thu của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng được hưởng).
Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu Còn theo thông tư 200, Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo các khoản hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu tiền được. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được từ giao dịch và nghiệp vụ phát sinh như: bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có). Trong đó doanh thu cung cấp dịch vụ là doanh thu thực hiện công việc đã thỏa Trần Lê Trang Thu 7 Lớp K20CLCH Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng thuận theo hợp đồng trong một hay nhiều kỳ kế toán như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho thuê tài sản cố định theo phương thức cho thuê hoạt động….
Điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng theo thông tư 200 Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu bán hàng khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau: - Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa cho người mua; - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. Khi hợp đồng quy định người mua được quyền trả lại sản phẩm, hàng hoá, đã mua theo những điều kiện cụ thể, doanh nghiệp chỉ được ghi nhận doanh thu khi những điều kiện cụ thể đó không còn tồn tại và người mua không được quyền trả lại sản phẩm, hàng hoá (trừ trường hợp khách hàng có quyền trả lại hàng hóa dưới hình thức đổi lại để lấy hàng hóa, dịch vụ khác); - Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; - Xác định được các chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Điều kiện ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ theo thông tư 200 Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau: - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. Khi hợp đồng quy định người mua được quyền trả lại dịch vụ đã mua theo những điều kiện cụ thể, doanh nghiệp chỉ được ghi nhận doanh thu khi những điều kiện cụ thể đó không còn tồn tại và người mua không được quyền trả lại dịch vụ đã cung cấp; - Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó; - Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào thời điểm báo cáo; Trần Lê Trang Thu 8 Lớp K20CLCH Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng - Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó.
Một số lưu ý khi xác định doanh thu cung cấp dịch vụ - Trường hợp kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ không thể xác định được một cách chắc chắn thì doanh thu được ghi nhận tương ứng với chi phí đã ghi nhận có thể thu hồi - Doanh thu và chi phí liên quan đến giao dịch cung cấp dịch vụ phải được ghi nhận theo nguyên tắc phù hợp trong phạm vi năm tài chính - Trường hợp trao đổi dịch vụ lấy dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu và không được ghi nhận doanh thu - Doanh thu được ghi nhận theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu trong tương lai, cụ thể: + Đối với doanh nghiệp dịch vụ tính và nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, doanh thu dịch vụ được ghi nhận theo giá dịch vụ cung cấp không bao gồm thuế GTGT. + Đối với doanh nghiệp dịch vụ tính và nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, doanh thu dịch vụ được ghi nhận theo tổng giá thanh toán. + Trường hợp dịch vụ được xác định là xuất khẩu, chịu thuế xuất khẩu thì doanh thu được ghi nhận theo tổng giá cước bao gồm cả thuế xuất khẩu. + Trường hợp hợp đồng cung cấp dịch vụ được thực hiện qua nhiều kỳ kế toán thì doanh thu dịch vụ được ghi nhận theo phương pháp tỉ lệ hoàn thành.