phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Khí Công nghiệp Long Biên. Chƣơng 3: Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Khí Công nghiệp Long Biên. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP THƢƠNG MẠI 1.
Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp hóa chất ảnh hƣởng đến kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh Theo luật doanh nghiệp năm 2014 thì Hoạt động kinh doanh đƣợc hiểu là: "Việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi". Hoạt động kinh doanh trong một số trƣờng hợp đƣợc hiểu nhƣ hoạt động thƣơng mại. Theo Luật Thương mại 2005 giải thích, hoạt động thƣơng mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Do đó kinh doanh thƣơng mại là quá trình đƣa sản phẩm từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng qua hai quá trình chủ yếu đó là mua hàng và bán hàng.
Đối tƣợng kinh doanh thƣơng mại rất phong phú, bao gồm tất cả các loại hàng hoá lƣu thông trên thị trƣờng, của nhiều ngành hàng khác nhau nhƣ: Hàng nông sản, thuỷ sản, hàng vật tƣ thiết bị, thực phẩm chế biến… Đặc điểm cơ bản của hoạt động kinh doanh thƣơng mại là thực hiện việc tổ chức lƣu thông hàng hoá, dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong tiêu dùng xã hội. Kinh doanh thƣơng mại cũng có những đặc điểm riêng của mình nhƣ sau: - Đối tƣợng kinh doanh thƣơng mại là các loại hàng hoá đƣợc phân loại theo từng ngành hàng: + Hàng vật tƣ thiết bị + Hàng công nghệ phẩm tiêu dùng + Hàng lƣơng thực, thực phẩm chế biến. - Đối tƣợng phục vụ của ngành kinh doanh thƣơng mại là ngƣời tiêu dùng, bao gồm: Các cá nhân, các đơn vị sản xuất kinh doanh, các đơn vị, tổ chức xã hội khác. 10 - Kết thúc một quá trình kinh doanh thƣơng mại thì vốn của doanh nghiệp đƣợc chuyển hoá từ hình thái tiền tệ sang hình thái hàng hoá và từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ.
- Quá trình lƣu chuyển hàng hoá trong kinh doanh thƣơng mại bao gồm hai giai đoạn, giai đoạn mua hàng và giai đoạn bán hàng, không qua khâu chế biến làm thay đổi hình thái vật chất của hàng hoá. Trong đó: + Mua hàng là giai đoạn đầu tiên của quá trình lƣu chuyển hàng hoá, thông qua mua hàng, quan hệ trao đổi và quan hệ thanh toán tiền hàng giữa ngƣời mua và ngƣời bán về giá trị hàng hoá đƣợc thực hiện. Trong các doanh nghiệp thƣơng mại, hàng hoá chỉ đƣợc coi là hàng mua khi thoả mãn đồng thời ba điều kiện: Phải thông qua một phƣơng thức mua - bán - thanh toán tiền hàng nhất định, doanh nghiệp đã nắm đƣợc quyền sở hữu về hàng hoá, và mất quyền sở hữu về tiền hay một loại hàng hoá khác, và hàng mua về nhằm mục đích để bán hoặc qua gia công rồi bán. + Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thƣơng mại.
Thông qua bán hàng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá đƣợc thực hiện, vốn của doanh nghiệp đƣợc chuyển từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ, doanh nghiệp thu hồi đƣợc vốn bỏ ra, bù đắp đƣợc chi phí và có nguồn tích luỹ để mở rộng kinh doanh. Quá trình bán hàng thƣờng đƣợc thực hiện qua hai phƣơng thức là bán buôn và bán lẻ. Đặc trƣng của bán buôn là, khi kết thúc quá trình mua bán, hàng hoá vẫn trong quá trình lƣu thông, còn đặc trƣng của bán lẻ là, khi kết thúc quá trình mua bán, hàng đã vào lĩnh vực tiêu dùng. Bán buôn và bán lẻ hàng hoá đƣợc thực hiện bằng nhiều hình thức bán thẳng, bán qua kho, bán trực tiếp và gửi bán qua đại lý, ký gửi.
- Trong các doanh nghiệp thƣơng mại, vốn hàng hoá là vốn chủ yếu nhất và nghiệp vụ kinh doanh hàng hoá là nghiệp vụ phát sinh thƣờng xuyên, chiếm một khối lƣợng công việc rất lớn, quản lý hàng hoá là một trong những nội dung quản lý quan trọng nhất trong các doanh nghiệp thƣơng mại. Trong quản lý kinh doanh ở các doanh nghiệp kinh doanh mà dặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh thƣơng mại, kế toán giữ vai trò quan trọng, là công cụ để 11 điều hành quản lý các hoạt động kinh doanh diễn ra trong doanh nghiệp, trong đó các phần hành kế toán, doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh là các phần hành kế toán cơ bản nhất trong hạch toán kế toán hoạt động kinh doanh cũng nhƣ trong nội dung quản lý hàng hoá của doanh nghiệp thƣơng mại. Kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thƣơng mại mang những đặc điểm riêng của mình. Khát quát chung về doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thƣơng mại 1.
Chi phí và phân loại chi phí Khái niệm chi phí Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài các hao phí về lao động sống cần thiết và lao động vật hóa để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp còn phải bỏ ra rất nhiều các khoản chi phí khác, các khoản chi phí có thể là một bộ phận mới do doanh nghiệp sáng tạo ra và cũng có những khoản chi phí đôi khi rất khó xác định chính xác là hao phí về lao động sống hay hao phí về lao động vật hóa. Do vậy hiện nay, chi phí hoạt động của doanh nghiệp đƣợc hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình hoạt động kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhât định. Theo quan điểm kinh tế, chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dƣới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu. Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất, tiêu thụ hàng hóa.
Đối với các doanh nghiệp thƣơng mại hoạt động kinh tế chủ yếu là mua và bán hàng hoá nhằm thu lợi nhuận và thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội khác của doanh nghiệp. Để thực hiện các mục tiêu của mình, doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí nhất định, các chi phí phát sinh trong từng ngày, từng giờ ở tất cả các giai 12 đoạn khác nhau của quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thƣơng mại trong một thời kỳ nhất định. Trƣớc hết là các chi phí phát sinh ở khâu mua hàng, đó là các chi phí vận chuyển hàng hoá từ nơi mua tới kho của doanh nghiệp, chi phí tiền lƣơng trả cho cán bộ công nhân viên chuyên trách ở khâu mua hàng hoá trong một thời gian nhất định. Tiếp đến là chi phí ở khâu dự trữ và tiêu thụ hàng hoá.
Các chi phí này bao gồm chi phí chọn lọc, đóng gói, bảo quản hàng hoá, chi phí vận chuyển hàng hoá từ kho của doanh nghiệp đến ngƣời tiêu dùng, tiền thuê kho bãi, chi phí sử dụng đồ dùng, khấu hao TSCĐ, quảng cáo và các chi phí có liên quan khác. Ngoài các chi phí kể trên là các chi phí có liên quan đến quản lý doanh nghiệp thƣơng mại. Trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp còn phải thực hiện các nghiệp vụ kinh tế khác nhƣ đầu tƣ liên doanh, liên kết, nhƣợng bán, thanh lý TSCĐ, mua bán chứng khoán, đầu tƣ vào hệ thống tín dụng nhằm thu lợi, bảo toàn vốn kinh doanh. Các hoạt động kinh tế cũng đòi hỏi doanh nghiệp thƣơng mại phải phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định trong kỳ, các khoản chi phí này sẽ đƣợc bù đắp bằng các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp thƣơng mại trrong kỳ.
Nhƣ vậy, từ góc độ doanh nghiệp có thể thấy rằng chi phí kinh doanh của doanh nghiệp thƣơng mại là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Các chi phí phát sinh từ khâu mua vào dự trữ đến khâu bán ra và các chi phí có liên quan đến đầu tƣ vốn ra ngoài và đƣợc bù đắp bằng thu nhập hoặc doanh thu kinh doanh của doanh nghiệp thƣơng mại trong kỳ đó. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 01- Chuẩn mực chung: Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dƣới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu. ❖ Phân loại chi phí Các chi phí trong doanh nghiệp đƣợc nhìn nhận theo nhiều góc độ.
Phân loại chi phí là cách sắp xếp các chi phí khác nhau vào cùng một nhóm dựa trên các tiêu 13 thức phân loại khác nhau. Phân loại chi phí phụ thuộc vào nhu cầu thông tin quản lý. Tùy vào yêu cầu thông tin mà có các cách phân loại chi phí khác nhau. * Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế, chi phí đƣợc phân thành 5 loại: Theo cách phân loại này, chi phí phát sinh nếu có cùng nội dung kinh tế đƣợc sắp xếp chung vào cùng một yếu tố, bất kể nó phát sinh ở bộ phận nào, dùng để sản xuất hàng hóa gì.
Việc phân loại theo tiêu thức này giúp tập hợp, quản lý chi phí tốt hơn, qua đó đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, cung cấp tài liệu để lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, việc phân loại này không phân biệt đƣợc chi phí theo từng mục đích và nguyên nhân gây ra chi phí.