Chương 1, tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu của đề tài. Khi tiến hành khảo sát thực tế công tác kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Thương mại Hà Phát, tác giả đã nhận thấy được một số tồn tại và bất cập cần hoàn thiện. Từ đó, làm cơ sở đưa ra các phương hướng, giải pháp có tính khả thi mang lại những thông tin kế toán trung thực và hợp lý cho Công ty nói chung và các doanh nghiệp nói riêng cũng như đáp ứng được yêu cầu của hệ thống kế toán Việt Nam. 11 CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 2.
Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp thương mại trên góc độ kế toán tài chính 2. Những vấn đề chung liên quan đến doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong kế toán tài chính 2. Những vấn đề chung về doanh thu * Khái niệm doanh thu - Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” định nghĩa như sau: “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”. Như vậy, có thể hiểu bản chất của doanh thu là tổng giá trị được thực hiện do việc bán sản phẩm, hàng hóa hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
- Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014 thì doanh thu được định nghĩa là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền. Nghĩa là, doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không 12 được coi là doanh thu.
Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu. - Liên quan đến doanh thu còn có các khoản giảm trừ doanh thu gồm: + Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. + Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. + Giá trị hàng bán bị trả lại: Là doanh thu khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.
Vậy doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ tiền bán sản phẩm, hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường sau khi đã trừ các khoản chiết khấu, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại và các hoạt động tài chính, hoạt động khác của doanh nghiệp. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền. * Phân loại doanh thu Có rất nhiều cách phân loại doanh thu trong doanh nghiệp, mỗi cách phân loại lại có những ưu điểm nhất định. Các cách phân loại doanh thu được thể hiện qua sơ đồ sau: (Phụ lục 2.1) Cách 1: Phân loại DT theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh DN lựa chọn phân loại DT theo tiêu thức này sẽ xác định được chính xác kết quả HĐKD của DN,.từ đó ra những quyết định chính xác trong việc lựa chọn các phương án kinh doanh.
13 Cách 2: Phân loại doanh thu theo khu vực địa lý Việc phân loại theo tiêu thức này giúp nhà quản trị xác định được mức độ hoạt động theo khu vực địa lý, là căn cứ để đánh giá mức sinh lợi cũng như rủi ro trong kinh doanh của từng khu vực, trên cơ sở đó các nhà quản trị có những giải pháp và những phương án kinh doanh hợp lý. Cách 3: Phân loại doanh thu theo tình hình kinh doanh Cách phân loại này giúp cho DN xác định DT của từng loại hình hoạt động của DN. Trên cơ sở đó xác định tỷ trọng DT của từng loại hoạt động, đâu là hoạt động mũi nhọn, từ đó có phương án kinh doanh hợp lý. Cách 4: Phân loại doanh thu theo mối quan hệ với điểm hòa vốn Với cách phân loại này giúp DN xác định được điểm hòa vốn hay điểm an toàn cho từng phương án kinh doanh, trên cơ sở đó DN đưa ra lựa chọn chính xác phương án kinh doanh tối ưu nhất cho DN của mình.
Cách 5: Phân loại doanh thu theo phương thức thanh toán tiền hàng Với cách phân loại này sẽ giúp DN xây dựng dự toán về các khoản công nợ và chi phí trong kỳ của DN. Ngoài ra cách phân loại này giúp cho việc phân tích, đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng, là căn cứ quan trọng để xác định mức dự phòng phải thu khó đòi. Cách 6: Phân loại doanh thu theo phương thức bán hàng Với cách phân loại DT theo tiêu chí này sẽ giúp DN xác định được tổng mức tiêu thụ hàng hóa của từng loại, từ đó hoạch định được mức luân chuyển hàng hóa, xây dựng được mức dự trữ hàng hóa cần thiết, tránh được tình trạng ứ đọng hoặc thiếu hàng gây ảnh hưởng không tốt cho quá trình HĐKD của DN. 14 * Nguyên tắc ghi nhận doanh thu Vấn đề quan trọng nhất của ghi nhận doanh thu là thời điểm ghi nhận doanh thu và giá trị ghi nhận (đo lường doanh thu).
Các nguyên tắc kế toán (chủ yếu) được áp dụng ghi nhận doanh thu: - Nguyên tắc hiện thực: Theo nguyên tắc hiện thực, thời điểm để DT được xác định phải thỏa mãn hai điều kiện: DT đạt được và có thể xác định.Về cơ bản, doanh thu được coi là đạt được khi đơn vị kế toán hoàn thành hoặc gần như hoàn thành những công việc cần phải thực hiện đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sẽ cung cấp cho khách hàng để nhận được lợi ích kinh tế tương ứng với DT. DT thu được coi là có thể xác định khi thu được tiền hàng hoặc có quyền pháp lý thu tiền tương ứng với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã bán được. Theo nguyên tắc hiện thực, vào thời điểm hoạt động bán sản phẩm (giao hàng – chuyển quyền sở hữu) cho khách hàng được thực hiện là thời điểm ghi nhận DT. Việc ghi nhận DT ở những khâu trước đó đồng nghĩa với việc phá vỡ nguyên tắc này.
- Nguyên tắc thận trọng: Không ghi nhận DT quá cao, vì mỗi một số liệu của kế toán đều liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của nhiều phía khác nhau, mà trong lĩnh vực kinh tế thì có nhiều trường hợp không thể lường trước hết được từ đó đòi hỏi kế toán phải thận trọng. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi DT và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế. Còn CP phải được ghi nhận khi có bằng chứng có thể về khả năng phát sinh. - Nguyên tắc phù hợp: Khi ghi nhận doanh thu phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó.
Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó. 15 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện: + Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua + Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa + Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn + Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng, cung cấp dịch vụ + Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng, cung cấp dịch vụ + Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán đối với giao dịch cung cấp dịch vụ 2. Những vấn đề chung về chi phí * Khái niệm chi phí - Theo chuẩn mực Việt Nam số 01 “Chuẩn mực chung” định nghĩa về chi phí như sau: Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản, hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vón chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu. - Chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn đã phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các chi phí 16 khác.
Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền, các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc, thiết bị, được kế toán ghi nhận trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chứng minh việc phát sinh của chúng. Vậy chi phí hoạt động của doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá tình hoạt động kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định. Trong đó các chi phí về giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí chính trực tiếp ảnh hưởng đến việc tạo ra doanh thu, ngoài ra còn có chi phí tài chính và chi phí khác trong doanh nghiệp. * Phân loại chi phí Chi phí trong doanh nghiệp thương mại đa dạng và phức tạp, có những chi phí chỉ liên quan đến một đối tượng, có những chi phí lại phát sinh liên quan ñến nhiều đối tượng khác nhau,.
vì thế để quản lý, theo dõi, phân tích kế toán phải nhóm các chi phí thành từng nhóm.