Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh Chương 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Viên Mãn Chương 3: Khuyến nghị, đề xuất giải pháp để hoàn thiện công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Viên Mãn. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH 2. Giới thiệu về hoạt động kinh doanh khách sạn: Theo thông tin từ trang web chính thức của Tổng cục Thống kê Việt Nam: chỉ riêng tháng 7/2023 tại thành phố Hồ Chí Minh, doanh thu từ dịch vụ lưu trú và ăn uống ước tính chạm ngưỡng 10 nghìn tỷ đồng - tăng hơn 5% so với tháng trước và tăng 42,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng đầu năm 2023; doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 60,7 tỷ vnđ – tăng 36,3% so với cùng kỳ năm ngoái (trong đó doanh thu cung cấp dịch vụ lưu trú tăng 42,1%; doanh thu về ăn uống tăng 35,7%), Điều đó cho thấy nhu cầu về du lịch của khách du lịch cả quốc tế lẫn nội địa đều đang tăng cao qua hằng năm do nền kinh tế hiện nay đang dần phát triển một cách hiện đại hơn, kéo theo đó là thu nhập của công dân tại các nước cũng tăng lên.
Tất nhiên không phải hầu hết công dân đều được gia tăng thu nhập nhưng ít nhiều cũng có những công dân có điều kiện, có kinh tế, do đó họ muốn đi du lịch đến những thành phố khác, những quốc gia khác để trải nghiệm, để tham quan,. Do nhu cầu du lịch tăng cao, kéo theo đó là sự bùng nổ kinh doanh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ lưu trú. Chính vì thế mà những nơi có tài nguyên du lịch dồi dào thường có sự cạnh tranh khốc liệt trong việc kinh doanh dịch vụ lưu trú ngắn ngày. Diễn giải một cách ngắn gọn thì kinh doanh khách sạn chính là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp dịch vụ lưu trú và các dịch vụ đi kèm khác như ăn uống, vui chơi giải trí, xông hơi massage, vũ trường và bán các hàng hóa lưu niệm,.nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong quá trình tham quan du lịch hoặc trong chuyến công tác của họ để mang về doanh thu và lợi nhuận cho khách sạn.
Hiện nay có rất nhiều loại hình kinh doanh khách sạn, sau đây là 3 kiểu loại hình khách sạn phổ biến nhất: 7 + Khách sạn thương mại – Commercial hotel: loại hình này phục vụ chủ yếu các đối tượng khách hàng là doanh nhân, công chức nhà nước đi công tác, tham gia hội nghị, hội thảo. Được xây dựng tại những vị trí đắc địa như giữa trung tâm thành phố hoặc trên các tuyến đường dẫn ra sân bay quốc tế, gần nơi tập trung các trung tâm sự kiện để dễ dàng phục vụ nhu cầu của khách hàng. Ngoài ra loại hình khách sạn này cũng đón tiếp các khách hàng cá nhân là người đi du lịch tự do hoặc các khách du lịch đi theo đoàn,. Đây là loại hình kinh doanh khách sạn phổ biến nhất.
+ Khách sạn nghỉ dưỡng - Resort hotel: Vì mục đích hướng đến tệp khách hàng có nhu cầu nghỉ dưỡng, thư giãn nên loại hình khách sạn này thường được xây dựng tại những địa điểm gần với biển, rừng, núi,. và đi liền với các dịch vụ bổ sung như hồ bơi, nhà hàng và xông hơi, massage,. Vì thế nên chi phí cho một đêm tại resort khá đắt đỏ. - Khách sạn bình dân – Motel: loại hình kinh doanh này cũng phổ biến và chi phí cũng khá rẻ.
Thường dùng cho các đối tượng muốn dừng chân để nghỉ ngơi qua đêm như tài xế, người đi phượt và phục vụ cả những khách du lịch với mức chi phí an toàn và bình ổn hơn nếu họ không có nhu cầu ở những loại khách sạn khác. Doanh thu trong khách sạn Hoạt động cung cấp dịch vụ khách sạn rất đa dạng và có rất nhiều dịch vụ đi kèm. Để thu về được khoản doanh thu cuối cùng thì các cơ sở kinh doanh dịch vụ sẽ trải qua một quá trình liên hoàn bao gồm: chuẩn bị - sản xuất, phục vụ - bán hàng. Các giai đoạn trên có thể được thực hiện theo các thứ tự khác nhau (tức giai đoạn bán hàng có thể xảy ra trước giai đoạn chuẩn bị hoặc giai đoạn chuẩn bị và giai đoạn sản xuất sẽ xảy ra trước giai đoạn bán).
- Doanh thu (cung cấp dịch vụ): là tổng số tiền mà doanh nghiệp thu được hoặc sẽ thu được cuối cùng trong kỳ kế toán, phát sinh từ việc chuẩn bị - sản xuất, phục vụ - kinh doanh các sản phẩm về dịch vụ lưu trú cùng với các dịch vụ bổ sung xảy ra tại khách sạn sau khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng. - Doanh thu thuần: là khoản tiền chênh lệch giữa DT bán hàng và cung cấp dịch vụ với các khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu hàng bán, doanh thu hàng bị trả lại. 8 - Doanh thu từ hoạt động tài chính: Là những khoản thu nhập liên quan đến các hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp như: mua bán chứng khoán; góp vốn liên doanh, liên kết; cho thuê tài sản; thu lãi tiền gửi; lãi bán ngoại tệ,. - Thu nhập khác: là các khoản thu nhập ngoài các HĐKD thông thường và không phát sinh thường xuyên như: thanh lý, nhượng bán TSCĐ; khoản tiền thu về do khách hàng vi phạm hợp đồng, thu được khoản nợ khó đòi đã xử lý,.
Doanh thu mà khách sạn thu được đến từ hai nguồn chính đó là doanh thu từ dịch vụ lưu trú và doanh thu từ các dịch vụ bổ sung khác (ví dụ: nhà hàng, spa, bar, bán hàng lưu niệm, bán hàng hóa,. + Dịch vụ lưu trú: đây là loại dịch vụ chủ yếu của khách sạn và nguồn thu đến từ dịch vụ cho thuê phòng là nguồn doanh thu chính và là nguồn thu quan trọng nhất của tất cả các cơ sở kinh doanh loại hình dịch vụ khách sạn. Tùy theo quy mô của từng khách sạn hoặc quy mô tại từng địa phương mà nguồn thu này đóng góp dao động trong khoảng từ 30% - 90% tổng doanh thu. Vì thế, để thúc đẩy doanh thu, các khách sạn đã ra sức tham gia rất nhiều các kênh bán phòng khác nhau như: OTA, GDS, công ty du lịch, website khách sạn,.
để đạt được mức công suất phòng cao nhất. + Các dịch vụ bổ sung khác: hiện nay, đại đa số các khách sạn đều cung cấp các dịch vụ đi kèm cho khách hàng theo các mức giá trọn gói khi thuê phòng khách sạn. Một trong những dịch vụ bổ sung phổ biến nhất, thường xuyên xuất hiện tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ khách sạn là dịch vụ ăn uống bao gồm các tiện ích như nhà hàng, quầy bar, tổ chức tiệc cưới, tiệc cuối năm, liên hoan, là nguồn thu nhập cao thứ hai sau dịch vụ cho thuê phòng tại khách sạn. Ngoài ra, để nâng cao doanh thu và thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng, khách sạn còn cung cấp thêm các dịch vụ bổ sung khác như: bán hàng lưu niệm; dịch vụ đưa đón sân bay; dịch vụ giặt là; dịch vụ xông hơi, massage; mở các sân chơi giải trí, thể thao; cùng các dịch vụ thương mại khác.
*Chứng từ sử dụng: - Đơn đặt hàng 9 - Hóa đơn bán hàng - Hợp đồng kinh tế - Hóa đơn GTGT - Phiếu thu, giấy báo ngân hàng - Phiếu xuất kho - Thông báo từ ngân hàng - Các chứng từ tự lập khác. * Tài khoản sử dụng 2. Tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ “Tài khoản này phản ánh DT bán hàng thực tế của doanh nghiệp được thực hiện trong một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ”. (200/2014/TT- BTC) Kết cấu và nội dung ghi chép TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ - Các khoản thuế gián thu phải - Doanh thu bán sản phẩm, nộp (GTGT, TTĐB, XK, BVMT) hàng hóa, bất động sản dầu tư và - Doanh thu hàng bán bị trả lại cung cấp dịch vụ của doanh kết chuyển cuối kỳ nghiệp thực hiện trong kỳ kế toán.
- Khoản chiết khấu thương mại kết chuyển cuối kỳ - Kết chuyển doanh thu thuần vào tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh” TK 511 không có số dư cuối kỳ Sơ đồ 1: Sơ đồ chữ T - TK 511 Tài khoản 511 có 5 tài khoản cấp 2: - TK 5111: DT bán hàng hóa - TK 5112: DT bán thành phẩm 10 - TK 5113: DT cung cấp dịch vụ - TK 5114: DT trợ cấp, trợ giá - TK 5117: DT kinh doanh bất động đầu tư. Sơ đồ kế toán TK 511: Sơ đồ 2: Sơ đồ hạch toán TK 511 Phƣơng pháp kế toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: (1) DT cung cấp dịch vụ phòng cho khách hàng trong kì đã thu tiền hoặc chưa thu tiền (đối với DN tính thuế GTGT theo pp khấu trừ), kế toán hạch toán: Nợ TK 111 – 112 – 131: Tiền mặt – Tiền gửi ngân hàng - Phải thu khách hàng Có TK 511(3): DT bán hàng và cung cấp dịch vụ Có TK 333(1): Thuế GTGT phải nộp Nhà nước (2) Trong trường hợp KH sử dụng dịch vụ với số lượng lớn hoặc DV cung cấp cho khách hàng bị phàn nàn, bị trả lại vì kém chất lượng, dịch vụ không hiệu quả, DN giảm giá cho khách hàng, kế toán hạch toán: Nợ TK 521(1) – 521(3): Chiết khấu thương mại – Giảm giá hàng bán 11 Nợ TK 333(1): Thuế GTGT phải nộp Nhà nước Có TK 131: Phải thu khách hàng Có TK 111 – 112: Tiền mặt – Tiền gửi ngân hàng (3) Cuối kỳ, tiến hành kết chuyển các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán để giảm trừ doanh thu thực hiện trong kì, kế toán hạch toán: Nợ TK 511(3): DT bán hàng và cung cấp dịch vụ Có TK 521(1) – 521(3): Chiết khấu thương mại – Giảm giá hàng bán (4) Cuối kỳ, kế toán xác định DT bán hàng thuần và kết chuyển sang TK “Xác định kết quả kinh doanh” Nợ TK 511(3): DT bán hàng và cung cấp dịch vụ Có TK 911: Xác định kết quả kinh doanh 2. TK 632 – Giá vốn hàng bán “Tài khoản này phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trong kỳ và các khoản hao hụt, mất mất hàng tồn kho”.