Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Trần Thị Ngọc Anh với đề tài "Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội" được thực hiện tại Học viện Tài chính dưới sự hướng dẫn của TS. Đoàn Xuân Tiên và TS. Lê Thị Diệu Linh, bảo vệ năm 2021 thuộc chuyên ngành Kế toán (mã số 9.01).

Về tính cấp thiết, hoạt động xây dựng cơ bản, đặc biệt là phân khúc xây dựng dân dụng, đóng vai trò tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. Hàng năm, vốn đầu tư vào ngành xây dựng cơ bản chiếm khoảng 35% tổng vốn đầu tư của cả nước. Theo báo cáo của Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT (FPTS), xây dựng cơ sở hạ tầng chiếm 41,2% giá trị ngành, xây dựng dân dụng chiếm 40,6%, phần còn lại là xây dựng công nghiệp. Tốc độ tăng trưởng ngành xây dựng Việt Nam giai đoạn 2015-2019 duy trì trên 7%/năm (năm 2015 đạt 10,8%), đến năm 2020 chịu tác động của dịch Covid-19 nên giảm xuống 6,76%. Khung pháp lý ngành có sự thay đổi với việc ban hành Luật Xây dựng năm 2014 và Luật Xây dựng sửa đổi năm 2020. Cùng với các hiệp định thương mại tự do như AFTA, ACFTA, AKFTA, CPTPP, thị trường xây dựng mở rộng nhưng cũng gia tăng áp lực cạnh tranh gay gắt.

Thực tế công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp xây dựng dân dụng Việt Nam hiện nay vẫn dựa trên Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14 - Doanh thu và thu nhập khác), số 15 (VAS 15 - Hợp đồng xây dựng) ban hành từ các năm 2001-2002 cùng Thông tư 200/2014/TT-BTC và Thông tư 133/2016/TT-BTC. Các văn bản này bộc lộ sự lỗi thời, chủ yếu tiếp cận theo giao dịch phát sinh và hóa đơn nghiệm thu từng đợt, chưa tương thích với thông lệ quốc tế khi Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) đã ban hành Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế số 15 (IFRS 15 - Doanh thu từ hợp đồng với khách hàng) có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 nhằm thay thế cho IAS 11 và IAS 18.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng; đánh giá thực trạng tại các doanh nghiệp xây dựng dân dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội; phân tích thời cơ, thách thức khi chuyển đổi sang áp dụng IFRS 15; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và điều kiện thực hiện nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại các đơn vị này.

Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu cụ thể được đánh số trong văn bản:

  1. Cơ sở lý luận chung về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng bao gồm những nội dung gì?
  2. Đặc điểm của doanh nghiệp xây dựng ảnh hưởng đến kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng như thế nào?
  3. Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội như thế nào?
  4. Hoàn thiện các nội dung của kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội như thế nào cho phù hợp với xu hướng hiện nay?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong doanh nghiệp xây dựng, cụ thể gồm: nhận diện hợp đồng, thời điểm ghi nhận, phương pháp xác định và ghi nhận, kế toán chi tiết - tổng hợp và trình bày thông tin trên báo cáo tài chính.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên các phương diện:

  • Giới hạn hoạt động: Chỉ nghiên cứu hoạt động xây dựng dân dụng dưới góc độ nhà thầu (nhà thầu chính và nhà thầu phụ), không nghiên cứu dưới góc độ chủ đầu tư; loại trừ các hoạt động kinh doanh bất động sản và dịch vụ thương mại khác.
  • Giới hạn nội dung: Tiếp cận dưới góc độ kế toán tài chính trên báo cáo tài chính riêng của từng doanh nghiệp (tổng công ty, công ty mẹ, công ty con, đơn vị trực thuộc); không nghiên cứu kế toán quản trị và không nghiên cứu trên báo cáo tài chính hợp nhất.
  • Giới hạn không gian: Các doanh nghiệp xây dựng dân dụng đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Giới hạn thời gian: Dữ liệu thực tế được khảo sát và thu thập trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong văn bản được tác giả phân chia theo 3 nhóm nội dung chính:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về khung lý thuyết kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh. Về doanh thu, giai đoạn trước năm 2018 gắn với các chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 11, IAS 18 và chuẩn mực Việt Nam VAS 14, VAS 15 dựa trên cơ sở giao dịch phát sinh và chuyển giao rủi ro, lợi ích. Các tác giả quốc tế tiêu biểu gồm: W. Glover và Yuri Ijiri (2000); Bruce Founder (2009) nghiên cứu tính thống nhất trong ghi nhận doanh thu; Yuri Biondi, Jonathan C. Glover và cộng sự (2011) đề xuất khuôn mẫu ghi nhận doanh thu gắn với việc thanh toán chắc chắn và phân định phương pháp hợp đồng hoàn thành với tỷ lệ phần trăm hoàn thành; Mathew G. Lamoreaux (2012) phân tích dự thảo sửa đổi ghi nhận doanh thu theo cam kết hợp đồng của IASB và FASB. Tại Việt Nam, hướng tiếp cận theo giao dịch được phản ánh trong nghiên cứu của Hà Thị Thúy Vân (2011), Trương Thanh Hằng (2014 - ngành vận tải hành khách), Đỗ Minh Thoa (2015), Trần Tuấn Anh (2016), Nguyễn Thị Thanh Loan (2014 - xây dựng công trình thủy điện). Sau năm 2018, khi IFRS 15 có hiệu lực, các nghiên cứu chuyển sang tiếp cận theo nghĩa vụ hợp đồng và chuyển giao quyền kiểm soát, tiêu biểu là Lương Khánh Chi (2017), Nguyễn Diệu Linh (2019 - dịch vụ viễn thông di động với mô hình 5 bước ghi nhận theo thời điểm hoặc thời kỳ), Vũ Thị Quỳnh Chi (2019).

Về chi phí, các công trình của Stenvan J., Nguyễn Thị Thanh Loan (2014), Nguyễn La Soa (2016), Lê Thị Hương (2017) chủ yếu tiếp cận theo kế toán quản trị (chi phí mục tiêu, chi phí ABC, lập dự toán). Tác giả Van (2017) chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa IAS 11 và IFRS 15, nhấn mạnh điểm mới của IFRS 15 là ghi nhận chi phí tạo lập hợp đồng như một tài sản nếu có khả năng thu hồi. Về kết quả kinh doanh, các công trình của Michael Chatfield (1977), Edward và Bell (1961), Hick (1989), SFAS 130 (1997) của FASB, Chamber (1998) và Mai Ngọc Anh cùng cộng sự (2014) làm rõ sự phát triển từ cách tiếp cận giao dịch sang quan điểm bảo toàn vốn và kết quả toàn diện.

Thứ hai, các nghiên cứu theo thời điểm, phương pháp xác định và trình bày thông tin. Tác giả Mai Ngọc Anh và cộng sự (2014) phân định cách tiếp cận thời điểm và cách tiếp cận quá trình. Vũ Hữu Đức và cộng sự (2010), Amanda Corona (2019), CS&H Group (2018) phân tích phương pháp tỷ lệ phần trăm hoàn thành dựa trên yếu tố đầu vào (chi phí) hoặc đầu ra (khối lượng nghiệm thu). Các công trình của Nguyễn Diệu Linh (2019) và Vũ Thị Quỳnh Chi (2019) bước đầu đề xuất trình bày các khoản mục tài sản hợp đồng và nợ phải trả hợp đồng trên báo cáo tài chính.

Thứ ba, các nghiên cứu kế toán theo ngành nghề cụ thể. Gồm có Đỗ Thị Hồng Hạnh (2015 - ngành thép), Giáp Đăng Kha (2015 - kế toán quản trị chi phí xây dựng), Nguyễn Thị Thanh Loan (2014 - xây dựng thủy điện).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Các công trình trước đây tại Việt Nam về doanh nghiệp xây dựng chủ yếu tập trung vào kế toán quản trị chi phí hoặc hạch toán theo giao dịch dựa trên VAS 15 và Thông tư 200; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh dưới góc độ kế toán tài chính gắn với nghĩa vụ hợp đồng và sự chuyển giao quyền kiểm soát theo IFRS 15 cho đối tượng đặc thù là các doanh nghiệp xây dựng dân dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án dựa trên hai nền tảng lý thuyết kế toán căn bản:

  • Lý thuyết thực thể gắn với kế toán động: Doanh thu và chi phí phát sinh từ các giao dịch và sự kiện làm tăng hoặc giảm luồng lợi ích kinh tế của đơn vị. Kết quả kinh doanh được đo lường bằng việc so sánh đối ứng giữa doanh thu thực hiện và chi phí phù hợp trong kỳ kế toán.
  • Lý thuyết sở hữu gắn với kế toán tĩnh và quan điểm bảo toàn vốn của IASB: Đo lường sự thay đổi của tài sản thuần thuộc về chủ sở hữu.
  • Mô hình ghi nhận doanh thu 5 bước của Chuẩn mực quốc tế IFRS 15: (1) Xác định hợp đồng với khách hàng; (2) Xác định các nghĩa vụ thực hiện riêng biệt trong hợp đồng; (3) Xác định giá giao dịch; (4) Phân bổ giá giao dịch cho từng nghĩa vụ thực hiện; (5) Ghi nhận doanh thu khi đơn vị hoàn thành từng nghĩa vụ thực hiện (thông qua việc chuyển giao quyền kiểm soát tài sản theo thời gian hoặc tại một thời điểm).

Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án là phương pháp định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả, quy nạp và diễn giải dữ liệu thực tế.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ:

  • Báo cáo tài chính công bố và báo cáo tài chính sao chụp tại phòng kế toán của các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội; hệ thống sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết, hồ sơ dự toán, hợp đồng xây dựng và biên bản nghiệm thu;
  • Báo cáo tài chính của các tập đoàn xây dựng quốc tế (báo cáo ngày 30/06/2018 của Tập đoàn Petrofac, báo cáo của Tập đoàn Bouygues);
  • Báo cáo tổng kết của Bộ Xây dựng, báo cáo ngành của Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT (FPTS);
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm Luật Kế toán, Luật Xây dựng năm 2014 và 2020, Thông tư 200/2014/TT-BTC, Thông tư 133/2016/TT-BTC; hệ thống chuẩn mực kế toán VAS 14, VAS 15, IAS 11, IAS 18, IFRS 15.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua 3 cuộc khảo sát và phỏng vấn chuyên gia:

  • Khảo sát 1: Phỏng vấn sâu 8 chuyên gia và cán bộ quản lý (gồm 4 nhân viên kế toán thuộc Công ty Vimeco, Công ty Cổ phần Xây dựng số 1 thuộc Tổng công ty Đầu tư Phát triển Nhà Hà Nội - Handico, Tập đoàn Xây dựng Tây Bắc, Công ty Xây dựng Sông Đà 1; 2 nhà quản lý thuộc Vinaconex và Handico; 2 kiểm toán viên độc lập) nhằm tìm hiểu mô hình tổ chức, phân cấp quản lý và đặc điểm hạch toán ban đầu.
  • Khảo sát 2: Gửi phiếu khảo sát trực tiếp và qua Google Docs tới các nhà quản lý, kế toán trưởng, nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội nhằm thu thập dữ liệu về thực trạng xác định, đo lường và ghi nhận doanh thu, chi phí. Tổng số phiếu phát ra là 100 phiếu, số phiếu thu về hợp lệ là 65 phiếu.
  • Khảo sát 3: Gửi bảng hỏi qua Google Docs tới 30 đối tượng nhằm khảo sát tính khả thi và rào cản khi áp dụng IFRS 15, kết hợp phỏng vấn sâu 2 chuyên gia kế toán. Số lượng phát ra 30 phiếu, thu về đủ 30 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 100%).

Cơ cấu mẫu của cuộc khảo sát thứ 3 được tổng hợp tại bảng sau:

STT Đối tượng khảo sát Số lượng người
1 Kiểm toán viên 6
2 Nhân viên kế toán 7
3 Nhà quản lý doanh nghiệp 5
4 Chuyên gia kế toán 6
5 Giảng viên đại học 6
Tổng cộng 30

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong doanh nghiệp xây dựng

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm và đặc thù kinh tế - kỹ thuật của hoạt động xây dựng ảnh hưởng trực tiếp đến công tác kế toán. Luận án phân định công trình xây dựng gồm công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, hạ tầng kỹ thuật; trong đó xây dựng dân dụng gồm hai nhóm chính: nhà ở (nhà chung cư, nhà riêng lẻ) và công trình công cộng (công trình văn hóa, giáo dục, y tế, thương nghiệp, khách sạn, ga, bến xe, nhà làm việc...). Sản phẩm xây dựng dân dụng có đặc điểm: quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian thi công kéo dài qua nhiều niên độ kế toán, địa điểm cố định nhưng lực lượng sản xuất lưu động.

Về hợp đồng xây dựng (HĐXD), tác giả phân loại theo hình thức (trọn gói, đơn giá cố định, đơn giá điều chỉnh, thời gian, giá kết hợp); theo mối quan hệ các bên (thầu chính, thầu phụ, giao khoán nội bộ, có yếu tố nước ngoài); theo cách tính giá (giá cố định, chi phí phụ thêm). Các đặc điểm này chi phối trực tiếp đến việc lựa chọn thời điểm ghi nhận theo giao dịch hay theo hợp đồng, phương pháp ước tính tỷ lệ hoàn thành và trình bày báo cáo tài chính.

Luận án làm rõ bản chất kinh tế của các yếu tố cấu thành:

  • Doanh thu hoạt động xây dựng: Là tổng giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được từ hoạt động đấu thầu, thi công xây lắp, làm tăng vốn chủ sở hữu một cách gián tiếp. Doanh thu hợp đồng bao gồm: doanh thu ban đầu ghi trong hợp đồng; các khoản biến động do thay đổi thiết kế hoặc phạm vi công việc; các khoản tiền thưởng hoàn thành vượt tiến độ; các khoản bồi thường chi phí do lỗi từ khách hàng. Điều kiện ghi nhận là phải có khả năng chắc chắn thu được và đo lường được một cách đáng tin cậy.
  • Chi phí hoạt động xây dựng: Là tổng giá trị các khoản tiêu hao nguồn lực kinh tế (lao động sống và lao động vật hóa) liên quan đến việc thực hiện hợp đồng. Chi phí trực tiếp bao gồm: chi phí nhân công tại công trường (gồm cả giám sát nội bộ của nhà thầu, loại trừ chi phí tư vấn giám sát độc lập do chủ đầu tư chi trả), chi phí nguyên vật liệu và thiết bị công trình, khấu hao máy móc thi công, chi phí vận chuyển lắp đặt, chi phí thiết kế và trợ giúp kỹ thuật trực tiếp, chi phí dự phòng sửa chữa bảo hành công trình. Chi phí chung có thể phân bổ gồm: chi phí bảo hiểm, chi phí quản lý chung công trường, chi phí lãi vay đủ điều kiện vốn hóa. Các khoản chi phí bị loại trừ tuyệt đối khỏi hợp đồng gồm: chi phí quản lý hành chính chung của doanh nghiệp, chi phí bán hàng, chi phí khấu hao máy móc thiết bị nhàn rỗi.
  • Kết quả kinh doanh: Đo lường dựa trên việc kết chuyển doanh thu và giá vốn tương ứng theo nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc dồn tích.

Chương này phân tích sâu hai quan điểm tiếp cận: tiếp cận theo giao dịch (VAS 14, VAS 15, IAS 11 dựa trên sự chuyển giao rủi ro, lợi ích và nghiệm thu khối lượng công việc) và tiếp cận theo hợp đồng (IFRS 15 với mô hình 5 bước, ghi nhận doanh thu theo việc chuyển giao quyền kiểm soát tài sản qua thời gian hoặc tại một thời điểm). Tác giả cũng phân tích thực tế áp dụng IFRS 15 qua Báo cáo tài chính của Tập đoàn Petrofac (thuyết minh doanh thu theo các nghĩa vụ tách biệt ngày 30/06/2018) và Tập đoàn Bouygues để rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế cho các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn tại các doanh nghiệp xây dựng dân dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội (điển hình như Tổng công ty Vinaconex, Công ty Cổ phần Xây dựng số 1 - Vinaconex 1, Handico, Công ty Cổ phần Vimeco, Công ty Cổ phần Xây dựng Sông Đà 1, Tập đoàn Xây dựng Tây Bắc).

Về tổ chức bộ máy kế toán, các doanh nghiệp áp dụng ba mô hình: mô hình kế toán tập trung, mô hình phân tán và mô hình kết hợp vừa tập trung vừa phân tán. Về chính sách kế toán, các đơn vị chủ yếu vận dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC.

Về thực trạng hạch toán chi phí: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trực tiếp qua các tài khoản: TK 621 (Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp), TK 622 (Chi phí nhân công trực tiếp), TK 623 (Chi phí sử dụng máy thi công), TK 627 (Chi phí sản xuất chung), sau đó kết chuyển vào TK 154 (Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang) theo từng công trình hoặc hạng mục công trình. Dẫn chứng tại Công ty Vimeco quý 4/2019, chi phí cho từng công trình được theo dõi chi tiết theo bảng kê và kết chuyển giá vốn vào TK 632 khi hoàn thành bàn giao.

Về thực trạng ghi nhận doanh thu và thời điểm ghi nhận: Phần lớn các doanh nghiệp tại Hà Nội chỉ ghi nhận doanh thu khi có biên bản nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành được chủ đầu tư ký duyệt và tiến hành xuất hóa đơn GTGT (tiếp cận theo giao dịch và đợt thanh toán). Doanh nghiệp ít khi áp dụng phương pháp tỷ lệ phần trăm hoàn thành dựa trên chi phí ước tính theo VAS 15 do lo ngại rủi ro bị cơ quan thuế xử phạt khi có chênh lệch giữa doanh thu kế toán và doanh thu tính thuế.

Về trình bày thông tin trên báo cáo tài chính: Các doanh nghiệp phản ánh thông tin theo mẫu biểu Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Bảng cân đối kế toán quy định tại Thông tư 200. Các khoản thanh toán theo tiến độ kế hoạch thường được treo trên TK 337 mà chưa thuyết minh chi tiết về bản chất các cam kết hợp đồng.

Tác giả chỉ ra các hạn chế chủ yếu:

  • Hợp đồng xây dựng ký kết phức tạp nhưng kế toán không tiến hành bóc tách các nghĩa vụ thực hiện riêng biệt (như nghĩa vụ thiết kế, thi công móng, xây thô, hoàn thiện, bảo dưỡng).
  • Thời điểm ghi nhận doanh thu bị phụ thuộc vào tiến độ nghiệm thu hình thức và việc phát hành hóa đơn, làm sai lệch kết quả kinh doanh giữa các kỳ kế toán.
  • Phương pháp xác định tỷ lệ hoàn thành chưa có tiêu chí kỹ thuật chuẩn xác; việc phân bổ chi phí chung (TK 627) và máy thi công (TK 623) còn mang tính chủ quan.
  • Báo cáo tài chính chưa cung cấp các thông tin cần thiết về nghĩa vụ thực hiện còn lại, các ước tính kế toán đối với các khoản doanh thu biến đổi, chưa hạch toán các tài sản hợp đồng và nợ phải trả hợp đồng.
  • Nguyên nhân của hạn chế: Khung pháp lý chuẩn mực kế toán Việt Nam chậm đổi mới so với quốc tế; việc thực thi kế toán bị chi phối nặng nề bởi quy định pháp luật về thuế; hạ tầng công nghệ thông tin và năng lực chuyên môn của đội ngũ kế toán còn hạn chế.

Chương 3: Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các đơn vị xây dựng dân dụng tại Hà Nội

Trên cơ sở định hướng phát triển của ngành xây dựng và đề án áp dụng IFRS tại Việt Nam của Bộ Tài chính, Chương 3 đề xuất 5 nhóm giải pháp hoàn thiện cụ thể:

  1. Hoàn thiện việc nhận diện và xử lý hợp đồng xây dựng: Xây dựng quy chế phối hợp giữa bộ phận kỹ thuật, đấu thầu và kế toán để đánh giá tính khả thi và giá trị hợp lý của hợp đồng; nhận diện các trường hợp kết hợp hoặc sửa đổi hợp đồng xây lắp theo đúng nguyên tắc chuẩn mực quốc tế khi phát sinh các hạng mục bổ sung ngoài dự toán ban đầu.
  2. Hoàn thiện thời điểm ghi nhận doanh thu, chi phí: Chuyển dịch từ việc ghi nhận theo biên bản nghiệm thu đợt sang ghi nhận doanh thu theo tiến độ chuyển giao quyền kiểm soát tài sản qua thời gian (over time). Hoạt động xây dựng dân dụng đáp ứng tiêu chí này do tài sản tạo ra nằm trên đất của khách hàng hoặc không có mục đích sử dụng thay thế cho nhà thầu và nhà thầu có quyền được thanh toán bắt buộc đối với phần khối lượng đã thực hiện.
  3. Hoàn thiện phương pháp xác định và ghi nhận theo mô hình 5 bước IFRS 15:
    • Tách bạch các nghĩa vụ thực hiện riêng biệt trong hợp đồng xây lắp tổng hợp.
    • Xác định giá trị giao dịch có tính đến các khoản doanh thu biến đổi (tiền thưởng tiến độ, phạt vi phạm, trượt giá nguyên vật liệu).
    • Phân bổ giá giao dịch dựa trên giá bán độc lập ước tính của từng nghĩa vụ.
    • Lựa chọn phương pháp đo lường mức độ hoàn thành dựa trên yếu tố đầu vào (tỷ lệ chi phí thực tế phát sinh trên tổng chi phí dự toán) hoặc yếu tố đầu ra (khối lượng xây lắp hoàn thành được giám sát xác nhận kỹ thuật).
  4. Hoàn thiện kế toán chi phí hợp đồng: Bổ sung quy định vốn hóa các chi phí phát sinh để bảo đảm thực hiện hợp đồng (nếu có khả năng thu hồi) thành một tài sản riêng biệt trên Bảng cân đối kế toán, thay vì hạch toán toàn bộ vào chi phí thời kỳ.
  5. Hoàn thiện việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính: Bổ sung hai chỉ tiêu đặc thù theo thông lệ quốc tế là "Tài sản hợp đồng" (phản ánh quyền nhận tiền của nhà thầu khi đã thực hiện công việc nhưng chưa có quyền xuất hóa đơn đòi tiền vô điều kiện) và "Nợ phải trả hợp đồng" (phản ánh khoản tiền chủ đầu tư đã ứng trước vượt quá khối lượng công việc đã chuyển giao). Đồng thời, mở rộng thuyết minh báo cáo tài chính về các khoản biến động doanh thu, giá trị hợp đồng còn lại chưa thực hiện và các giả định ước tính kế toán.

Về điều kiện thực hiện, luận án nêu rõ trách nhiệm từ hai phía:

  • Đối với Nhà nước và cơ quan quản lý (Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng): Cần sớm ban hành Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Việt Nam mới (VFRS 15) tương thích với IFRS 15; sửa đổi đồng bộ các văn bản hướng dẫn hành nghề kế toán và chính sách thuế để tháo gỡ mâu thuẫn giữa doanh thu kế toán và doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
  • Đối với doanh nghiệp xây dựng dân dụng: Nâng cấp hệ thống phần mềm quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP); đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ kế toán viên về IFRS; chuẩn hóa công tác lập dự toán thi công và định mức kinh tế kỹ thuật.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở cửa. Luận án phân tích rõ ràng sự khác biệt giữa quan điểm tiếp cận theo giao dịch truyền thống (VAS 14, VAS 15, IAS 11) và quan điểm tiếp cận theo hợp đồng (IFRS 15); chi tiết hóa cách thức vận dụng mô hình 5 bước ghi nhận doanh thu vào loại hình xây dựng dân dụng.

Về mặt thực tiễn, luận án phản ánh toàn diện thực trạng công tác kế toán tại các doanh nghiệp xây dựng dân dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2016-2020. Tác giả chỉ ra các điểm nghẽn kỹ thuật trong việc hạch toán chi phí 621, 622, 623, 627, 154 và sự phụ thuộc thiếu căn cứ khoa học vào hóa đơn nghiệm thu khi ghi nhận doanh thu. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang tính khả thi cao, cung cấp quy trình chuyển đổi cụ thể từ hạch toán theo VAS hiện hành sang IFRS 15, từ việc nhận diện nghĩa vụ hợp đồng, đo lường doanh thu theo thời gian, vốn hóa chi phí đến thiết kế biểu mẫu thuyết minh báo cáo tài chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án giới hạn không gian khảo sát thực nghiệm tại địa bàn thành phố Hà Nội, chưa mở rộng ra các trung tâm kinh tế lớn khác như Thành phố Hồ Chí Minh hay Đà Nẵng. Luận án chỉ tập trung vào phân khúc xây dựng dân dụng dưới vai trò nhà thầu, loại trừ phân khúc xây dựng hạ tầng, công nghiệp và góc độ chủ đầu tư kinh doanh bất động sản. Về nội dung, nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi kế toán tài chính trên báo cáo tài chính riêng lẻ, chưa đi sâu vào kế toán quản trị doanh thu - chi phí và chưa phân tích kỹ thuật lập báo cáo tài chính hợp nhất tại các tập đoàn xây dựng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ các giới hạn trên gồm:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát thực tế trên quy mô toàn quốc và các loại hình xây dựng chuyên ngành khác (xây dựng giao thông, công nghiệp, thủy lợi).
  • Nghiên cứu mô hình kế toán quản trị doanh thu, chi phí nhằm kiểm soát rủi ro dự án trong các doanh nghiệp xây lắp.
  • Nghiên cứu chuyên sâu về các bút toán hợp nhất kinh doanh và lập báo cáo tài chính hợp nhất theo IFRS 15 tại các tổng công ty, tập đoàn xây dựng đa ngành có các giao dịch hợp đồng xây lắp nội bộ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán: Luận án cung cấp khung phân tích bài bản, nguồn tài liệu tổng quan phong phú về chuẩn mực quốc tế IFRS 15 cùng phương pháp luận khảo sát thực chứng trong ngành xây dựng.
  • Đối với giảng viên tại các cơ sở đào tạo đại học khối kinh tế: Các phân tích đối chiếu giữa VAS 14, VAS 15 với IFRS 15 tại Chương 1 và Chương 3 là học liệu hữu ích phục vụ giảng dạy các học phần Kế toán tài chính, Kế toán quốc tế và Kế toán xây lắp.
  • Đối với ban lãnh đạo, kế toán trưởng và kiểm toán viên tại các doanh nghiệp xây dựng: Cung cấp giải pháp kỹ thuật cụ thể để rà soát lại quy trình ghi nhận doanh thu, quản lý chi phí dở dang và chuẩn bị lộ trình kỹ thuật cho việc chuyển đổi báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính): Cung cấp các bằng chứng thực tiễn và kiến nghị xác đáng để phục vụ quá trình biên soạn, ban hành hệ thống Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Việt Nam (VFRS) mới.

Câu hỏi thường gặp

Công trình xây dựng dân dụng trong phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm những loại hình cụ thể nào?
Luận án căn cứ vào phân loại công trình xây dựng để giới hạn xây dựng dân dụng gồm hai nhóm: (1) Nhà ở (nhà chung cư và nhà riêng lẻ) và (2) Công trình công cộng (công trình văn hóa, giáo dục, y tế, thương nghiệp, dịch vụ, nhà làm việc, khách sạn, nhà ga, bến xe, công trình thể thao). Luận án loại trừ các công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi và hạ tầng kỹ thuật.

Mẫu khảo sát thực tế của luận án được thực hiện với quy mô và cơ cấu ra sao?
Tác giả thực hiện 3 cuộc khảo sát: (1) Phỏng vấn sâu 8 chuyên gia và cán bộ kế toán tại Vimeco, Handico, Vinaconex, Tây Bắc, Sông Đà 1 và kiểm toán viên; (2) Phát 100 phiếu điều tra thực trạng tại các doanh nghiệp xây dựng dân dụng Hà Nội, thu về 65 phiếu hợp lệ; (3) Khảo sát 30 người (thu về 30 phiếu, gồm 6 kiểm toán viên, 7 nhân viên kế toán, 5 nhà quản lý, 6 chuyên gia kế toán, 6 giảng viên đại học) về việc áp dụng IFRS 15 và phỏng vấn sâu 2 chuyên gia.

Doanh thu của hợp đồng xây dựng theo luận án gồm những yếu tố cấu thành nào?
Doanh thu hợp đồng xây dựng bao gồm: doanh thu ban đầu ghi nhận trong hợp đồng và các khoản biến động trong quá trình thực hiện (thay đổi yêu cầu kỹ thuật/thiết kế, tiền thưởng hoàn thành sớm hợp đồng, các khoản bồi thường chi phí do sự chậm trễ hoặc lỗi của khách hàng). Các khoản biến động chỉ được ghi nhận khi khách hàng đã chấp thuận và giá trị của chúng có thể xác định một cách đáng tin cậy.

Những khoản chi phí nào bị loại trừ, không được hạch toán vào chi phí hợp đồng xây dựng?
Theo luận án, các chi phí không liên quan hoặc không thể phân bổ cho hợp đồng xây dựng bị loại trừ gồm: chi phí quản lý hành chính chung của doanh nghiệp, chi phí nghiên cứu triển khai mà hợp đồng không quy định khách hàng phải hoàn trả, chi phí bán hàng và chi phí khấu hao các máy móc, thiết bị thi công nhàn rỗi không sử dụng cho hợp đồng.

Điểm khác biệt căn bản giữa IAS 11 và IFRS 15 về xử lý chi phí hợp đồng được luận án chỉ ra là gì?
Theo IAS 11, chi phí hợp đồng được ghi nhận phù hợp với doanh thu theo tỷ lệ phần trăm hoàn thành. Điểm mới quan trọng của IFRS 15 được luận án nhấn mạnh là cho phép ghi nhận chi phí phát sinh để tạo lập hoặc thực hiện hợp đồng như một tài sản nếu các chi phí này có khả năng thu hồi trong tương lai, sau đó phân bổ dần vào chi phí thời kỳ tương ứng với tiến độ hoàn thành nghĩa vụ.

Kết luận

Luận án của tác giả Trần Thị Ngọc Anh là công trình nghiên cứu toàn diện, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại các doanh nghiệp xây dựng dân dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội. Dựa trên việc phân tích đặc thù sản phẩm xây dựng và đối chiếu chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 15) với chuẩn mực quốc tế (IFRS 15), luận án chỉ ra các bất cập trong mô hình hạch toán dựa trên giao dịch và hóa đơn nghiệm thu hiện hành. Hệ thống giải pháp theo mô hình 5 bước cùng các điều kiện triển khai được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần định hướng cho các doanh nghiệp xây lắp hoàn thiện tổ chức kế toán và từng bước hội nhập với thông lệ báo cáo tài chính quốc tế.