Chương 1: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp theo Thông tư 200/TT/201-BTC. Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Thương mại Thái Sơn TĐN. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Thương mại Thái Sơn TĐN. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP THEO THÔNG TƯ 200/TT/2014-BTC.
Đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp và sự ảnh hưởng đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và sản phẩm xây lắp. Xây dựng cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất sản xuất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ngành XDCB mang những đặc điểm về kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình sản xuất sản phẩm của ngành như sau: Sản phẩm ngành xây lắp là những công trình, hạng mục công trình có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc và có thời gian thi công kéo dài; Sản phẩm xây lắp thi công được chia làm nhiều giai đoạn, bao gồm: Giai đoạn chuẩn bị; Giai đoạn thi công móng; Giai đoạn thi công phần thô; Giai đoạn hoàn thiện.
Sản phẩm xây lắp bị cố định tại vị trí sản xuất điều này khiến các yếu tố sản xuất phải linh hoạt di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Sản phẩm xây lắp không nhập kho mà được tiêu thụ trực tiếp; 1. Sự ảnh hưởng của đặc điểm ngành xây dựng cơ bản đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Ngành xây dựng cơ bản có những đặc điểm chuyên biệt riêng dẫn tới sự ảnh hưởng đến việc quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành như sau: Quy mô sản phẩm lớn, giai đoạn thi công kéo dài, mang tính chất phức tạp yêu cầu tổ chức quản lý và hạch toán phải có thiết kế thi công, dự toán công trình, đồng thời trong giai đoạn thi công cán bộ quản lý phải luôn so sánh chi phí thực tế với chi phí dự toán lấy căn cứ để điều chỉnh hợp lý và kịp thời.
Sản phẩm xây lắp có nhiều công đoạn thi công, phần lớn công việc được thực hiện ngoài trời có thể chịu ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên như: mưa, bão lũ,… điều này là một nhân tố tác động tới tiến độ công trình hoặc giá thành công trình hoàn thành. 1 Thang Long University Library Sản phẩm xây lắp có địa điểm thi công thay đổi và mang tính thời vụ cần các yếu tố đầu vào và quản lý chi phí phải linh hoạt đảm bảo không ảnh hưởng tới giá cả đầu vào. Sản phẩm xây lắp hoàn thành có quy mô lớn không thể nhập kho mà được tiêu thụ luôn theo giá dự toán hoặc theo giá thỏa thuận với chủ đầu tư. Giá vốn chỉ được tính khi sản phẩm xây lắp hoàn thành và sẵn sàng bàn giao.
Vai trò và nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp 1. Vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp Chi phí sản xuất và chất lượng sản phẩm là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới việc hoạt động của doanh nghiệp xây lắp. Quản lý đầu vào hợp lý không làm tăng chi phí nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng công trình tốt sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Do vậy, việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất chính xác, hợp lý và tính đúng, tính đủ giá thành công trình xây lắp có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành xây dựng.
Việc kiểm tra tính hợp pháp hợp lệ của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp nói chung và ở các tổ đội xây dựng nói riêng điều này đòi hỏi kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải thực hiện công việc theo trình tự, logic, đầy đủ và chính xác và kiểm tra các khâu hạch toán như nguyên vật liệu, tiền lương, TSCĐ,… 1. Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp Căn cứ vào những vai trò của kế toán đã được nêu trên và nhu cầu quản lý chi phí, giá thành sản phẩm yêu cầu kế toán phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể như sau: Nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò và mối liên kế giữa kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm với toàn bộ các bộ phận trong doanh nghiệp; Căn cứ vào đặc điểm tổ chức, đặc điểm quy trình sản xuất, khả năng hạch toán và yêu cầu quản lý để chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp; Phản ánh đầy đủ, kịp thời và chính xác toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh trong kỳ tính giá thành cũng như kỳ kế toán; Thực hiện tập hợp những chi phí sử dụng chung cho nhiều công trình, HMCT và lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp lý, thực hiện phân bổ cho các công trình theo các tiêu thức đã lựa chọn; 2 Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức vật tư lao động, chi phí sử dụng máy thi công và các dự toán chi phí khác để phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức, các chi phí ngoài kế hoạch trong thi công và các khoản thiệt hại, mất mát, hư hỏng… trong sản xuất để có các biện pháp kịp thời; Xác định đúng đắn và bàn giao kịp thời khối lượng công tác xây dựng đã hoàn thành. Định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo nguyên tắc quy định; Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở từng công trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, đội xây dựng,… trong từng thời kỳ nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp. Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 1.
Những vấn đề chung về chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 1. Khái niệm chi phí sản xuất Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra trong kỳ để phục vụ cho hoạt động sản xuất sản phẩm xây lắp. Phân loại chi phí sản xuất Phân loại chi phí sản xuất được tiến hành dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích và yêu cầu cụ thể của từng doanh nghiệp, nhưng đều đáp ứng các yêu cầu đưa ra là khoa học và hợp lý trong công tác kế toán, công tác hạch toán và tính giá thành. Mỗi cách phân loại chi phí đều có công dụng nhất định đối với công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra, kiểm soát chi phí.
Việc phân loại chi phí giúp nâng cao tính chi tiết của thông tin, tính quản lý và hiệu quả sử dụng hạch toán trong doanh nghiệp. Thông thường các chi phí sản xuất được phân loại cụ thể theo các tiêu thức như sau. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí. Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Là toàn bộ chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, vật kết cấu, công cụ dụng cụ, nhiên liệu, động lực… mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm xây lắp; Chi phí nhân công: Là toàn bộ các khoản chi phí về tiền lương, các khoản trích theo lương bao gồm: BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN của người lao động; Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng vào hoạt động sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp xây lắp; 3 Thang Long University Library Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp phải trả về các dịch vụ bên ngoài sử dụng vào quá trình xây lắp của doanh nghiệp như tiền điện, tiền điện thoại, tiền nước, tiền thuê máy móc…; Chi phí bằng tiền khác: Là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm xây lắp của doanh nghiệp ngoài các yếu tố chi phí trên và được thanh toán bằng tiền.
Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục chi phí tính giá thành. Đây là cách phân loại chi phí phổ biến nhất trong các doanh nghiệp hiện nay vì cách phân loại này giúp doanh nghiệp phân chia chi phí khoa học đảm bảo không bị nhầm lẫn giữa các chi phí với nhau, bên cạnh đó việc phân loại chi phí này phù hợp với yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo dự toán. Tiêu thức phân loại này chỉ rõ các khoản mục chi phí của doanh nghiệp bỏ ra cho từng lĩnh vực hoạt động, từng địa điểm phát sinh chi phí. Việc phân loại chi phí được thể hiện dưới đây.
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Là chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, vật kết cấu… sử dụng cho mục đích trực tiếp sản xuất, trực tiếp cấu thành lên sản phẩm xây lắp. Chi phí nguyên vật liệu sử dụng cho mục đích sản xuất chung và chi phí sử dụng máy thi công không được tính vào khoản mục này; Chi phí nhân công trực tiếp: Là chi phí tiền lương, tiền công của công nhân trực tiếp tham gia xây lắp công trình. Khoản mục này không bao gồm các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp xây lắp (BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN ) và tiền ăn ca; Chi phí sử dụng máy thi công: Là chi phí sử dụng máy thi công thực hiện khối lượng công tác xây lắp bằng máy bao gồm: lương chính, lương phụ, phụ cấp lương nhân viên lái máy, chi phí nguyên liệu, nhiên liệu, CCDC, khấu hao máy thi công, dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền, chi phí sửa chữa lớn máy thi công và chi phí công trình tạm thời cho máy thi công.