LỜI MỞ ĐẦU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM CHƢƠNG 2: GIỚI THIỆU DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN MINH PHÚC CHƢƠNG 3: KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM TẠI DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN MINH PHÚC CHƢƠNG 4: NHẬN XÉT - KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN Do điều kiện thời gian thực tập và kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chế nên Khóa luận tốt nghiệp này không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi, đóng góp, bổ sung của các anh, chị trong Doanh nghiệp tư nhân Minh Phúc và các thầy, cô để tôi có thể hoàn thiện hơn kiến thức của bản thân. SVTH: Vũ Thị Huyền 2 MSSV: 1154030305 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Phạm Thị Phụng CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM 1.1 Vấn đề chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản xuất sản phẩm 1.1 Chi phí sản xuất 1.1 Khái niệm Nền sản xuất của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất và đó là sự kết tinh của ba yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Các yếu tố đó chính là các chi phí sản xuất mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất những sản phẩm tương ứng đáp ứng cho nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam, VAS 01 - Chuẩn mực chung, ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì “ Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.” Vậy có thể kết luận rằng: Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm,…) để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh.2 Phân loại Việc phân loại chi phí được các doanh nghiệp áp dụng tuỳ theo đặc điểm sản xuất kinh doanh, quản lý và trình độ nghiệp vụ của mình sao cho hợp lý.
Do đó phân loại chi phí sản xuất chính là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng nhóm khác nhau theo những đặc tính nhất định. Có một số cách phân loại phổ biến như sau: Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí Theo cách phân loại này, các chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế được xếp chung vào một yếu tố, không kể đến chi phí phát sinh ở đâu hay dùng vào mục đích gì trong quá trình sản xuất. Bao gồm : Yếu tố Chi phí nguyên vật liệu như: Sắt, thép,. Yếu tố Chi phí nhiên liệu, động lực mua ngoài: Xăng, dầu, gas,.
SVTH: Vũ Thị Huyền 3 MSSV: 1154030305 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Phạm Thị Phụng Yếu tố Chi phí công cụ, dụng cụ như: Que hàn, máy khoan. Yếu tố Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp, gián tiếp, lao động thuê ngoài. Yếu tố Chi phí khấu hao tài sản cố định là các hao mòn của các loại tài sản trong doanh nghiệp như: Nhà xưởng làm việc, máy móc thiết bị thi công, phương tiện vận tải, thiết bị dụng cụ quản lý. Yếu tố Chi phí dịch vụ mua ngoài: Tiền điện, tiền nước, điện thoại.
Chi phí bằng tiền khác. Việc phân loại sản phẩm sản xuất theo yếu tố chi phí cho biết kết cấu, tỷ trọng từng yếu tố sản xuất để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán, là cơ sở để lập kế hoạch: Cung ứng vật tư, quỹ tiền lương, vốn để giúp cho việc thực hiện công tác kế toán cũng như công tác quản lý chi phí sản xuất một cách nhanh chóng và chính xác. Phân loại theo khoản mục chi phí Căn cứ vào các khoản mục chi phí khác nhau nhưng có mục đích và công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế để phân loại. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm toàn bộ các khoản chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu tham gia trực tiếp vào sản xuất chế tạo sản phẩm hay dịch vụ.
Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm toàn bộ các khoản thù lao phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất như lương, phụ cấp lương, các khoản trích theo lương. Chi phí sản xuất chung: là toàn bộ chi phí phát sinh trong phân xưởng (trừ 3 loại chi phí trên) bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao, chi phí cho điện thoại, điện nước và các chi phí bằng tiền khác. Chi phí bán hàng: là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí phục vụ cho quá trình bảo quản và tiêu thụ hàng hóa. Chi phí quản lí doanh nghiệp: là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các khoản chi phí cần thiết khác phục vụ cho quá trình quản lý và điều hành hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
SVTH: Vũ Thị Huyền 4 MSSV: 1154030305 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Phạm Thị Phụng Phân loại theo khoản mục chi phí có tác dụng phục vụ cho quản lý chi phí theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, lập kế hoạch giá thành và định mức chi phí sản xuất cho kỳ sau. Phân loại theo lĩnh vực hoạt động, có ba loại gồm: Chi phí sản xuất kinh doanh: là những chi phí liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó. Chi phí hoạt động tài chính: là chi phí liên quan đến việc dùng tiền để đầu tư vào lĩnh vực khác. Chi phí của hoạt động khác: là những chi phí của các nghiệp vụ không xảy ra thường xuyên trong doanh nghiệp.
Cách phân loại này giúp cho việc phân định chi phí được chính xác, phục vụ cho việc tính giá thành, xác định chi phí và kết quả cuả từng hoạt động kinh doanh đúng đắn, giúp cho việc lập Báo cáo tài chính nhanh, đúng và kịp thời. Phân loại theo mối quan hệ chi phí và khối lượng công việc: Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành: Chi phí cố định, chi phí biến đổi và chi phí hỗn hợp. Chi phí cố định (chi phí bất biến, định phí): là loại chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi về khối lượng hoạt động. Chi phí biến đổi (chi phí khả biến, biến phí): là các chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ với sự thay đổi của mức độ hoạt động.
Chi phí hỗn hợp là chi phí mà nó bao gồm cả định phí và biến phí. Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng giúp nhà quản trị nắm được mô hình chi phí - khối lượng - lợi nhuận để xác định điểm hoà vốn, nhằm đưa ra giải pháp tối ưu trong kinh doanh, nâng cao hiệu qủa chi phí, làm hạ giá thành sản phẩm. Phân loại chi phí theo mối quan hệ chi phí với đối tượng chịu chi phí: Theo cách phân loại này chi phí sản xuất bao gồm: Chi phí cơ bản: là những chi phí thuộc các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí khấu hao tài sản cố định dùng vào sản xuất và những chi phí trực tiếp khác. Những chi phí cơ bản liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tính giá thành thì hạch toán trực tiếp, còn SVTH: Vũ Thị Huyền 5 MSSV: 1154030305 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Phạm Thị Phụng những chi phí cơ bản nào liên quan đến nhiều đối tượng tính giá thành thì trực tiếp phân bổ các đối tượng tính giá thành theo các tiêu thức thích hợp.
Chi phí quản lý phục vụ: là những chi phí có tính chất quản lý, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của đơn vị. Chi phí quản lý phục vụ thì tập hợp riêng theo khoản mục sau đó cuối kỳ phân bổ một lần cho các đối tượng tính giá liên quan theo tiêu thức phù hợp.2 Giá thành sản phẩm 1.1 Khái niệm Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp phải bỏ ra có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành trong một kỳ hạn nhất định. Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh, là căn cứ quan trọng để xác định giá bán và xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất, cũng như tính đúng đắn của những giải pháp quản lý mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm hạ thấp chi phí, nâng cao lợi nhuận.2 Phân loại Có nhiều loại giá thành khác nhau, tuỳ theo yêu cầu quản lý cũng như các tiêu thức phân loại khác nhau mà giá thành được chia thành các loại tương ứng. Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành.
Căn cứ vào cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành, giá thành sản phẩm được chia thành 3 loại: 1) Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được tinh trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Việc tính toán xác định giá thành kế hoạch được tiến hành trước khi quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và do bộ phận kế hoạch thực hiện. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp. 2) Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí các định mức chi phí sản xuất hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm.
Việc tính giá thành định mức cũng được thực hiện trước khi tiến hành sản xuất, chế tạo sản phẩm.