phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo chuyên đề báo cáo gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chi chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất Chƣơng 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại chi nhánh Công ty Cổ Phần tập Đoàn Quốc Tế ABC tại Thanh Hóa. Chƣơng 3: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần tập Đoàn Quốc Tế ABC tại Thanh Hóa Sinh viên: Nguyễn Thị Loan 10 Lớp: K17B - ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thu Phương CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Nhƣng vấn đề chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 1.
Chi phí sản xuất Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài ngƣời gắn liền với quá trình sản xuất. Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phƣơng thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạ ản xuấ ản xuấ ết hợp của 3 yếu tố: Tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động, sức lao động. Đồng thời quá trình sản xuất hàng hóa cũng chính là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tố trên. Nhƣ vậy để tiến hành sản xuất hàng hóa phải bỏ ra chi phí về thù lao lao động về tƣ liệu lao động, và đối tƣợng lao động.
Vì thế sự hình thành nên các chi phí sản xuất sẽ tạo ra giá trị sản phẩm sản xuất là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của ngƣời sản xuất. Một doanh nghiệp sản xuất công nghiệp ngoài những hoạt động có liên quan đến quá trình sản xuất sản phẩm hoặc lao vụ còn có những hoạt động khác không có tính chất sản xuất nhƣ hoạt động bán hàng, hoạt động quản lý, các hoạt động mang tính chất sự nghiệp. Song chỉ những chi phí hoạt động sản xuất mới đƣợc coi là chi phí sản xuất. Thực chất, chi phí sản xuất là sự chuyển dịch vốn, chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tƣợng tính giá.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp cần có đầy đủ các yếu tố cơ bản sau: Lao động, tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động. Sự tham gia của các yếu tố trên vào quá trình sản xuất trong doanh nghiệp tạo nên các khoản chi phí tƣơng ứng: Đó là chi phí lao động sống và chi phí lao động vật hoá. - Chi phí lao động sống (V) là khoản tiền mà doanh nghiệp phải trả cho ngƣời lao động tham gia vào quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, thực hiện các lao vụ và dịch vụ trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp1.(Theo giáo trình 1 Giáo trình Kế toán tài chính (2010) Sinh viên: Nguyễn Thị Loan 11 Lớp: K17B - ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thu Phương kế toán tài chính của học viện tài chính của GS.NSND Ngô Thế Chi và TS.Trương Thị Thủy) - Chi phí lao động vật hoá (C) là toàn bộ giá trị tƣ liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp nhƣ: Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, năng lƣợng, tài sản cố định Nhƣ vậy chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ nhất định (có thể là trong tháng, trong quý, trong năm).
Phân loại chi phí sản xuất: Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp các chi phí sản xuất vào từng loại, từng nhóm khác nhau theo những đặc tính nhất định. Tùy theo sự xem xét chi phí ở các góc độ khác nhau và mục đích quản lý chi phí mà ngƣời ta có thể lựa chọn tiêu thức phân loại cho phù hợp. Tuy nhiên về mặt hạch toán chi phí sản xuất thƣờng đƣợc phân theo các tiêu thức sau: Phân loại yếu tố chi phí. Cách phân loại này giúp cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lƣu động cũng nhƣ việc lập, kiểm tra phân tích dự đoán chi phí.
Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí đƣợc chia thành 7 yếu tố sau: - Yếu tố nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ…Để sử dụng và sản xuất kinh doanh. - Yếu tố nhiên liệu, động lực: Sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi). - Yếu tố tiền lƣơng và các khoản phụ cấp lƣơng: Phản ánh tổng số tiền lƣơng và phụ cấp mang tính chất phải trả cho công nhân viên chức. - Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ: Phản ánh số trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lƣơng và phụ cấp phải trả cho công nhân tính vào chi phí.
- Yếu tố khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. - Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng và sản xuất kinh doanh. Sinh viên: Nguyễn Thị Loan 12 Lớp: K17B - ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thu Phương - Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Gồm các khoản chi phí khác bằng tiền chƣa phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Phân theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm. Cách phân loại: Dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tƣợng. Theo quy định hiện hành giá thành sản phẩm bao gồm 5 khoản mục chi phí sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu liên quan trực tiếp đến sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ. - Chi phí phân công trực tiếp: Bao gồm toàn bộ tiền lƣơng và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lƣơng phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ dịch vụ cùng với các khoản trích theo tỷ lệ quy định cho các quý KPCĐ, BHXH, BHYT (phần trích vào chi phí).
- Chi phí sản xuất chung: Gồm toàn bộ các chi phí còn lại phát sinh trong phạm vi phân xƣởng, bộ phận sản xuất sau khi đã loại trừ chi phí nguyên liệu và chi phí nhân công trực tiếp. - Chi phí bán hàng: Bao gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa lao dịch vụ trong kỳ. - Chi phí quản lý doanh nghiệp: Bao gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến QTKD và QLHC trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà không tách đƣợc bất kỳ hoạt động hay phân xƣởng nào. Phân theo cách thức cách chuyển chi phí.
Theo cách thức này chi phí sản xuất kinh doanh đƣợc chia thành: - Chi phí sản phẩm: Là những chi phí đƣợc gắn liền với các sản phẩm đƣợc sản xuất ra hoặc đựơc mua. - Chi phí thời kỳ: Là những chi phí làm giảm lợi tức trong một kỳ nào đó, nó không phải là một phần giá trị của sản phẩm đƣợc sản xuất ra đƣợc hoặc mua lên đƣợc xem là các phí tổn, cần đƣợc khấu trừ ra lợi nhuận của thời kỳ mà chúng phát sinh. Sinh viên: Nguyễn Thị Loan 13 Lớp: K17B - ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thu Phương Phân theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành.
Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm căn cứ để ra quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh đƣợc phân theo quan hệ với khối lƣợng công việc hoàn thành. Theo cách này chi phí đƣợc phân thành biến phí và định phí. - Biến phí: Là những chi phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ so với khối lƣợng công việc hoàn thành, chẳng hạn chi phí về nguyên vật liệu, nhân công trực tiếp. Cần lƣu ý rằng các chi phí biến đổi nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì nó là cố định.
- Định phí: Là những chi phí không thay đổi nếu về tổng số tới khối lƣợng công việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí thuê mặt bằng, phƣơng tiện kinh doanh…Các chi phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm không đổi. Giá thành sản phẩm 1.1 Khái niệm giá thành sản phẩm - Giá thành sản phẩm là biều hiện bằng tiền của tất cả các loại hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lƣợng sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành2. (Theo giáo trình kế toán tài chính của học viện tài chính của GS.NSND Ngô Thế Chi và TS.Trương Thị Thủy) - Giá thành sản xuất của sản phẩm, dịch vụ: là chi phí sản xuất tính cho một khối lƣợng hoặc một đơn vị sản phẩm (công việc, lao vụ) do doanh nghiệp sản xuất đã hoàn thành trong điều kiện công suất bình thƣờng - Giá thành sản phẩm: là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng tài sản, vật tƣ, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất, là căn cứ quan trọng để xác định giá bán và xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất.2 Phân loại giá thành sản phẩm Để đáp ứng yêu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch gia thành cũng nhƣ xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành đƣợc xem xét dƣới nhiều góc độ khác nhau. 2 Theo giáo trình kế toán tài chính năm 2010 Sinh viên: Nguyễn Thị Loan 14 Lớp: K17B - ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Thị Thu Phương Phân loại giá thành theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành. Theo cách phân loại này giá thành sản phẩm đƣợc chia làm 3 loại: + Giá thành kế hoạch: Là giá thành đƣợc xác định trƣớc khi bƣớc vào SX trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lƣợng kế hoạch của doanh nghiệp. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp. + Giá thành định mức : Là giá thành đƣợc xây dựng trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm và cũng đƣợc xác định trƣớc khi sản xuất sản phẩm.