CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN KHOẢN THANH TOÁN VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm và lý thuyết về kế toán khoản thanh với người lao động 1.1 Một số khái niệm cơ bản - Tiền lương Theo quan niệm của Mác: Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động. Theo quan niệm của các nhà kinh tế học hiện đại : Tiền lương là giá cả của lao động, được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường lao động. Ở Việt nam trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, tiền lương được hiểu là một bộ phận thu nhập quốc dân dùng để bù đắp hao phí lao động tất yếu do Nhà nước phân phối cho CNV chức bằng hình thức tiền tệ phù hợp với quy luật phân phối theo lao động. Hiện nay theo Điều 55 - Bộ Luật Lao Động Việt Nam quy định : Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc.
Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động mà người lao động đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh và được thanh toán theo kết quả lao động cuối cùng. Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, vừa là một yếu tố chi phí cấu thành nên giá trị của các loại sản phẩm lao vụ, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra, do đó các doanh nghiệp sử dụng hiệu quả sức lao động nhằm tiết kiệm chi phí, tăng tích lũy cho đơn vị, tăng thu nhập cho người lao động. - Các khoản trích theo lương Trong DN, ngoài việc người lao động được trả các khoản tiền lương, người lao động được hưởng các quỹ Phúc Lợi của DN và các khoản trợ cấp dưới các hình thức khác nhau.
Những khoản này không nằm trong quỹ tiền lương vì nó SVTH: Đặng Thị Gấm 3 Lớp: 14D2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên không mang nội dung của các khoản phụ cấp lương mà là những khoản chi thể hiện sự quan tâm chăm lo của Nhà Nước đối với đời sống sức khỏe, gia đình của người lao động. Theo quy định hiện hành, ngoài tiền lương trả cho người lao động, DN phải tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, một bộ phận chi phí trích theo tiền lương bao gồm các khoản BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ. Bảo hiểm xã hội: Là khoản tiền mà NLĐ được hưởng trong trường hợp nghỉ việc do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, khó khăn… Để được hưởng khoản trợ cấp này, người sử dụng lao động và NLĐ trong quá trình tham gia SXKD tại đơn vị phải đóng vào quỹ BHXH theo quy định. Bảo hiểm y tế: : Là khoản tiền hàng tháng của NLĐ và người sử dụng lao động đóng cho các cơ quan BHXH để được đài thọ khi có nhu cầu khám bệnh và chữa bệnh.
Kinh phí công đoàn: Là khoản tiền để duy trì hoạt động các tổ chức công đoàn đơn vị và công đoàn cấp trên. Các tổ chức này hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi và nâng cao đời sống của NLĐ Bảo hiểm thất nghiệp: Là quỹ dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng góp quỹ trong thời gian không có việc làm .2 Một số lý thuyết về kế toán khoản thanh toán với người lao động 1.1 Nội dung của kế toán các khoản thanh toán với người lao động Quỹ tiền lương Quỹ lương của một DN là toàn bộ số tiền lương DN phải trả cho tất cả lao động của mình quản lý sử dụng. Chính phủ đã ban hành nghị định 22/2011/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu chung ban hành ngày 04/04/2011 quy định mức lương tối thiểu chung thực hiện từ ngày 01 tháng 05 năm 2011 là 830.000 đồng/tháng Quỹ tiền lương bao gồm: - Tiền lương thời gian, tiền lương tính theo sản phẩm và tiền lương khoán. - Tiền lương trả cho NLĐ sản xuất ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ quy định.
SVTH: Đặng Thị Gấm 4 Lớp: 14D2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên - Tiền lương trả cho NLĐ trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan, trong thời gian được điều động công tác làm nghĩa vụ theo chế độ quy định thời gian nghỉ phép, thời gian đi học. - Các loại phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ. - Các khoản tiền lương có tính chất thường xuyên. Quỹ tiền lương kế hoạch trong DN còn được tính các khoản trợ cấp BHXH trong thời gian NLĐ ốm đau thai sản, tai nạn lao động… Trong DN, để phục vụ cho công tác hạch toán, tiền lương có thể được chia thành hai loại: Tiền lương lao động trực tiếp và tiền lương lao động gián tiếp, trong đó chi tiết theo tiền lương chính và tiền lương phụ.
Tiền lương chính: Là tiền lương trả cho NLĐ trong thời gian NLĐ thực hiện nhiệm vụ chính của họ, gồm tiền lương trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo. Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho NLĐ trong thời gian họ thực hiện nhiệm vụ khác, ngoài nhiệm vụ chính và thời gian NLĐ nghỉ phép, nghỉ tết, nghỉ vì ngừng sản xuất… được hưởng theo chế độ. Tiền lương chính của công nhân trực tiếp sản xuất gắn liền với quá trình sản xuất ra sản phẩm, tiền lương phụ của công nhân trực tiếp sản xuất không gắn với từng loại sản phẩm. Vì vậy, việc phân chia tiền lương chính và tiền lương phụ có ý nghĩa quan trọng đối với công tác phân tích kinh tế.
Để đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất của DN thì việc quản lý và chi tiêu quỹ tiền lương phải được đặt trong mối quan hệ phục vụ tốt cho việc thực hiện kế hoạch SXKD của DN, chi tiêu tiết kiệm và hợp lý quỹ tiền lương. Các phương pháp trả lương Lựa chọn phương thức trả lương hợp lý đóng vai trò hết sức quan trọng. Nó góp phần vào việc giáo dục quan điểm ý thức, thái độ , kỷ luật của NLĐ. Bên cạnh đó, nó còn góp phần bổ sung và sử dụng tốt lực lượng lao động trong xã hội, kích thích sản xuất.
Hiện nay ở nước ta có các hình thức trả lương cơ bản sau : a. Hình thức trả lương theo thời gian : Là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế. SVTH: Đặng Thị Gấm 5 Lớp: 14D2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên - Ưu điểm: rất đơn giản, dễ tính toán. - Nhược điểm: chưa chú ý đến chất lượng lao động, đồng thời chưa gắn với kết quả lao động cuối cùng, do đó không có khả năng kích thích người lao động tăng năng suất lao động.
Hình thức này được áp dụng đối với những công việc chưa định mức được, công việc tự động hóa cao, đòi hỏi chất lượng cao. Các loại tiền lương theo thời gian: - Tiền lương tháng: là tiền trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp đồng lao động. Lương tháng = Mức lương cơ bản × [hệ số lương + tổng hệ số phụ cấp (nếu có)] - Tiền lương tuần: là tiền lương trả cho một tuần làm việc. Tiền lương tuần= Tiền lương tháng x 12 : 52 tuần -Tiền lương ngày: là tiền lương trả cho một ngày làm việc.
Tiền lương ngày = Tiền lương tháng / Số ngày làm việc trong tháng theo quy định (22 hoặc 26) - Tiền lương giờ: là tiền lương trả cho một giờ làm việc Tiền lương giờ = tiền lương ngày /Số giờ làm việc theo quy định (8) (Nguồn : Ketoandoanhnghiep.info) Các hình thức tiền lương theo thời gian: - Tiền lương theo thời gian giản đơn: căn cứ vào thời gian làm việc, mức lương cơ bản, các khoản phụ cấp để tính trả cho người lao động. - Tiền lương theo thời gian có thưởng: hình thức này nhằm kích thích gười lao động tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và chú ý đến khối lượng công việc được giao. Đây là hình thức tiền lương theo thời gian kết hợp với tiền thưởng. Tiền lương theo thời gian có thưởng được chia làm hai bộ phận rõ rệt : Lương theo thời gian giản đơn gồm lương cơ bản và phụ cấp theo chế độ khi hoàn thành công việc và đạt yêu cầu về chất lượng.
Thưởng là khoản chi trả cho người lao động khi họ vượt mức hoặc giảm tỷ lệ phế phẩm hay hoàn thành xuất sắc công việc được giao. - Trả lương khi làm thêm giờ: (Khoản 1, 2 Điều 8 của Nghị Định số 197/CP ) SVTH: Đặng Thị Gấm 6 Lớp: 14D2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên Áp dụng cho mọi đối tượng, trừ những người làm việc theo sản phẩm, theo định mức, lương khoán hoặc trả lương theo thời gian làm việc không ổn định như: làm việc trên các phương tiện vận tải đường bộ (kể cả lái xe con), đường sông, đường biển và đường hàng không, thu mua hải sản, nông sản, thực phẩm… Khi làm thêm giờ vào ngày bình thường: Tltg = tiền lương giờ x số giờ làm thêm x 150% Khi làm thêm giờ vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ: Tltg = tiền lương giờ x số giờ làm thêm x 200% Nếu có nghỉ bù giờ làm thêm, người sử dụng lao động chỉ phải trả phần chênh lệch bằng : 50% tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường nếu làm thêm giờ vào ngày bình thường. 100% tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường, nếu làm thêm giờ vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ. - Trả lương làm việc ban đêm: (theo Khoản 3, Điều 8 Nghị Định số 197/CP ) Tiền lương trả thêm = tiền lương giờ × số giờ làm việc × ít nhất 30% hoặc 35% b.
Hình thức trả lương theo sản phẩm : Là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm làm ra. Hình thức này thể hiện thù lao lao động được chi trả cho người lao động dựa vào đơn giá và sản lượng thực tế mà người lao động hoàn thành và đạt được yêu cầu chất lượng đã quy định sẵn. Công thức : L = Qi × Đg Trong đó: + L là lương thực tế trong tháng. + Qi là số lượng sản phẩm mà công ty i đạt được.
+ Đg là đơn giá sản phẩm. Việc trả lương theo sản phẩm phải đảm bảo các điều kiện sau: - Phải xác định và giao định mức một cách chính xác cho người lao động.