Lời mở đầu Là một trong những thành phần cơ bản của hệ thống các doanh nghiệp, doanh nghiệp thương mại đóng vai trò là một mắt xích quan trọng, là cầu nối không thể thiếu giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Thông qua các doanh nghiệp thương mại, nhà sản xuất có thể biết và đáp ứng nhu cầu của khách hàng để từ đó tạo dựng chỗ đứng của mình trên thị trường. Trong bối cảnh hiện nay, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu sử dụng và tiêu dùng hàng hóa cũng ngày càng tăng. Nắm bắt được xu thế này, ngày càng xuất hiện nhiều doanh nghiệp thương mại làm tốt vai trò của mình, cung cấp những sản phẩm, hàng hóa có giá cả hợp lý, chất lượng ổn định.
Theo đó, sự cạnh tranh trên thị trường sẽ ngày càng khốc liệt, gay gắt hơn khiến việc tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, thử thách. Do đó, để giữ vững vị thế của mình trên thị trường, doanh nghiệp thương mại cần tìm ra những hướng đi mới trong công tác bán hàng. Các doanh nghiệp thương mại luôn trăn trở về việc làm thế nào đề đảm bảo việc thu hồi vốn đã bỏ ra, tối đa hóa lợi nhuận, góp phần nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên. Một trong những hướng đi được nhiều doanh nghiệp thương mại lựa chọn đó là làm tốt công tác bán hàng, có chiến lược tiêu thụ hợp lý để nắm bắt và thích ứng được trên thị trường.
Chính vì vậy, hoàn thiện công tác bán hàng và xác định kết quả bán hàng là hết sức cần thiết. Nhận thức được tầm quan trọng của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng, cùng với kiến thức đã học được ở trường Đại học Thăng Long và qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Thương mại - Thời trang Nguyễn Đức, em chọn đề tài “Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ phần Thương mại - Thời trang Nguyễn Đức” để làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp. Đối tượng nghiên cứu: Kế toán bản hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ phần Thương mại - Thời trang Nguyễn Đức. Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu hoạt động kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ phần Thương mại - Thời Trang Nguyễn Đức.
Trên cơ sở đó đối chiếu với chế độ kế toán của Việt Nam, từ đó rút ra những kết quả đã đạt được nhằm phát huy và những tồn tại để có đề xuất đóng góp ý kiến trong tổ chức kế toán nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty. Phạm vi nghiên cứu: Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ phần Thương mại - Thời trang Nguyễn Đức trong quý 4 năm 2023. Nội dung Khóa luận tốt nghiệp gồm 3 phần: Phần 1: Cơ sở lý luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại theo thông tư 133/2016/TT-BTC. Phần 2: Thực trạng về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ phần Thương mại - Thời trang Nguyễn Đức.
Phần 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty Cổ phần Thương mại - Thời trang Nguyễn Đức. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI THEO THÔNG TƯ 133/2016/TT-BTC 1. Khái quát chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thương mại theo thông tư 133/2016/TT-BTC 1. Bán hàng và xác định kết quả bán hàng 1.1 Khái niệm về bán hàng Bán hàng là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ, hoặc sản phẩm giữa người bán và người mua để đáp ứng nhu cầu, mong muốn, hoặc vấn đề cụ thể của người mua.
Khái niệm này không chỉ đơn thuần là việc đưa ra sản phẩm và thu tiền, mà còn bao gồm một loạt các hoạt động như tiếp thị, quảng cáo, tư vấn sản phẩm, xử lý đơn hàng, giao hàng và hỗ trợ sau bán hàng. Trong lĩnh vực kế toán, bán hàng thường được hiểu là quá trình ghi nhận và xử lý các giao dịch liên quan đến việc bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ của một doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong các thông tin tài chính liên quan. Quá trình bán hàng có thể chia thành 2 giai đoạn như sau: Giai đoạn 1: Căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết để xuất giao hàng hóa cho khách hàng Giai đoạn 2: Khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán (thông qua các giấy tờ, hóa đơn…). Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu được tiền, đủ bù đắp các khoản chi phí để sản xuất hoặc có được sản phẩm và có lợi nhuận.2 Xác định kết quả bán hàng Xác định kết quả bán hàng là quá trình đánh giá hiệu suất của hoạt động bán hàng của một doanh nghiệp dựa trên các chỉ số và tiêu chí nhất định.
Mục tiêu của việc xác định kết quả bán hàng là đo lường sự thành công của các hoạt động bán hàng và đưa ra những quyết định cần thiết để cải thiện hiệu suất kinh doanh. 1 Để xác định được kết quả bán hàng, kế toán so sánh giữa chi phí bỏ ra và doanh thu thu về trong kỳ từ hoạt động bán hàng. Chỉ tiêu này phản ánh kết quả cuối cùng về việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ thể hiện ở lãi hay lỗ về tiêu thụ hàng hóa. Việc xác định kết quả bán hàng thường được tiến hành vào cuối kỳ kinh doanh hoặc tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp.3 Vai trò và nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng Bán hàng và xác định kết quả bán hàng có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Việc xác định chính xác kết quả bán hàng là cơ sở xác định chính xác hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đối với nhà nước thông qua việc nộp thuế, phí, lệ phí vào ngân sách nhà nước, xác định cơ cấu chi phí hợp lý và sử dụng có hiệu quả cao số lợi nhuận thu được, giải quyết hài hoà giữa các lợi ích kinh tế: Nhà nước, tập thể và các cá nhân người lao động. Kế toán trong các doanh nghiệp với tư cách là một công cụ quản lý kinh tế, thu nhận xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản đó trong doanh nghiệp nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc phục vụ quản lý bán hàng và xác định kết quả bán hàng của doanh nghiệp đó. Một số khái niệm liên quan đến kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng 1.1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá trị thực hiện được do bán hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng. Thời điểm xác định doanh thu bán hàng là khi người mua đã chấp nhận thanh toán mà không phụ thuộc vào số tiền đã được thu hay chưa.
Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu bán hàng khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện sau (theo TT 133/2016 – Điều 57. Tài khoản 511): Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa cho người mua; 2 Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. Khi hợp đồng quy định người mua được quyền trả lại sản phẩm, hàng hóa, đã mua theo những điều kiện cụ thể, doanh nghiệp chỉ được ghi nhận doanh thu khi những điều kiện cụ thể đó không còn tồn tại và người mua không được quyền trả lại sản phẩm, hàng hóa (trừ trường hợp khách hàng có quyền trả lại hàng hóa dưới hình thức đổi lại để lấy hàng hóa, dịch vụ khác); Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; Xác định được các chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.2 Các khoản giảm trừ doanh thu Các khoản giảm Chiết khấu Giảm giá Hàng bán = + + trừ doanh thu thương mại hàng bán bị trả lại Các khoản giảm trừ doanh thu là các khoản được điều chỉnh giảm trừ doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ phát sinh trong kỳ. Theo đó, các khoản giảm trừ theo Thông tư 133/2016/TT-BTC gồm : Chiết khấu thương mại: Là khoản tiền mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc thanh toán cho khách hàng đã mua với số lượng lớn do thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã đàm phán trên hợp đồng mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng.
Đây cũng là khoản tiền chênh lệch giá bán nhỏ hơn giá niêm yết doanh nghiệp đã giảm trừ cho người mua hàng hóa với số lượng lớn. Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do sản phẩm, hàng hoá kém, mất phẩm chất hay không đúng quy cách theo quy định trong hợp đồng kinh tế. Hàng bán bị trả lại: Là giá trị của số sản phẩm, hàng hóa bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân: Vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị kém, mất phẩm chất, không đúng chủng loại, quy cách.3 Doanh thu thuần Doanh thu thuần là phần còn lại của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ sau khi đã trừ đi tất cả các khoản giảm trừ doanh thu. Tổng doanh thu bán hàng Các khoản giảm Doanh thu thuần = và cung cấp dịch vụ – trừ doanh thu 1.4 Giá vốn hàng bán Giá vốn hàng bán phản ánh giá trị gốc của hàng hóa, thành phẩm, dịch vụ đã thực sự tiêu thụ trong kỳ.
Ý nghĩa của giá vốn hàng bán chỉ được sử dụng khi xuất hiện hàng bán và tiêu thụ. Khi hàng hóa đã tiêu thụ và được phép xác định doanh thu thì đồng thời giá trị hàng xuất kho cũng được phản ánh theo giá vốn hàng bán để xác định kết quả. Do vậy xác định đúng giá vốn hàng bán có ý nghĩa quan trọng vì từ đó doanh nghiệp xác định đúng kết quả kinh doanh.5 Lợi nhuận gộp Lợi nhuận gộp là số tiền chênh lệch giữa doanh thu thuần và giá vốn hàng bán.