Luận văn: Kế toán bán hàng & KQKD tại TNHH Hanbo Vina - Trần Thị Thu Thảo

Luận văn phân tích chi tiết quy trình kế toán bán hàng và phương pháp xác định kết quả hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH Hanbo Vina, cung cấp cái nhìn sâu

Trường đại học

Học viện Tài chính

Chuyên ngành

Kế toán doanh nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2021

129
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh doanh nghiệp

Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là một phần quan trọng trong hệ thống kế toán doanh nghiệp. Hoạt động bán hàng tạo ra doanh thu, là nguồn thu nhập chính để duy trì và phát triển doanh nghiệp. Kế toán bán hàng có nhiệm vụ ghi nhận, phản ánh toàn bộ doanh thu bán hàng, các khoản giảm trừ doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Từ đó, xác định kết quả kinh doanh chính xác cho từng kỳ kế toán. Kết quả kinh doanh được xác định bằng cách lấy doanh thu thuần trừ đi giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, cộng với doanh thu hoạt động tài chính, thu nhập khác, trừ đi chi phí tài chính, chi phí khác và chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp. Tại Công ty TNHH Hanbo Vina, kế toán bán hàng được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, sử dụng hệ thống tài khoản kế toán phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung kết hợp phần mềm kế toán để quản lý hiệu quả hoạt động bán hàng và xác định kết quả kinh doanh.

1.1. Khái niệm bán hàng và các phương thức bán hàng tại doanh nghiệp

Bán hàng là hoạt động trao đổi sản phẩm, hàng hóa lấy tiền tệ, nhằm mục đích thu lợi nhuận. Đây là hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền thu được từ việc bán sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng, bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán. Tại Công ty TNHH Hanbo Vina, doanh nghiệp áp dụng hai phương thức bán hàng chính. Hình thức bán buôn áp dụng cho các đơn hàng lớn, số lượng nhiều, giá chiết khấu cao. Hình thức bán lẻ áp dụng cho khách hàng mua số lượng nhỏ, giá bán theo niêm yết. Mỗi phương thức có quy trình kế toán riêng, đảm bảo ghi nhận doanh thu đầy đủ và chính xác.

1.2. Các tài khoản kế toán sử dụng trong hạch toán bán hàng

II. Thực trạng kế toán bán hàng và KQKD tại Công ty TNHH Hanbo Vina

Công ty TNHH Hanbo Vina hoạt động trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm may mặc, có quy trình công nghệ sản xuất khép kín. Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức với các vị trí: kế toán trưởng, kế toán tổng hợp, kế toán tiền lương, kế toán bán hàng và kế toán vật tư. Công ty áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung kết hợp phần mềm kế toán để quản lý hoạt động tài chính. Kế toán doanh thu bán hàng được ghi nhận khi thỏa mãn năm điều kiện: chuyển giao rủi ro và lợi ích, không nắm giữ quyền quản lý, xác định được doanh thu, khả năng thu được lợi ích kinh tế và xác định được chi phí. Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại. Giá vốn hàng xuất bán được xác định theo phương pháp kê khai thường xuyên. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp được hạch toán đầy đủ, phân bổ hợp lý cho hàng tồn cuối kỳ.

2.1. Kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu

Kế toán doanh thu bán hàng tại Công ty TNHH Hanbo Vina ghi nhận trên TK 511 theo nguyên tắc accrual. Doanh thu được ghi nhận khi hàng hóa được giao cho khách hàng, quyền sở hữu chuyển giao và khả năng thu tiền được đảm bảo. Các khoản giảm trừ doanh thu được ghi giảm trên TK 521. Chiết khấu thương mại là khoản giảm giá dành cho khách hàng mua với số lượng lớn hoặc thanh toán đúng hạn. Giảm giá hàng bán áp dụng khi sản phẩm bị lỗi, kém chất lượng. Hàng bán bị trả lại ghi nhận khi khách hàng hoàn trả sản phẩm. Doanh thu thuần bằng doanh thu bán hàng trừ các khoản giảm trừ, phản ánh chính xác giá trị thực tế thu được từ hoạt động bán hàng.

2.2. Kế toán giá vốn chi phí và xác định kết quả kinh doanh

Giá vốn hàng xuất bán tại công ty được xác định theo phương pháp kê khai thường xuyên trên TK 632. Khi bán hàng, giá vốn được ghi nhận đồng thời với doanh thu, đảm bảo tính khớp đúng. Chi phí bán hàng trên TK 641 bao gồm chi phí quảng cáo, tiếp thị, bao bì, vận chuyển và lương nhân viên bán hàng. Chi phí quản lý doanh nghiệp trên TK 642 gồm lương ban giám đốc, chi phí văn phòng, khấu hao tài sản cố định. Cuối kỳ, toàn bộ doanh thu và chi phí được kết chuyển vào TK 911 để xác định kết quả kinh doanh. Kết quả kinh doanh phản ánh lãi hoặc lỗ từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả kế toán bán hàng tại Hanbo Vina

Qua phân tích thực trạng, nhiều giải pháp được đề xuất để nâng cao hiệu quả kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Hanbo Vina. Thứ nhất, công ty cần hoàn thiện quy trình ghi nhận doanh thu, xây dựng bộ tiêu chí rõ ràng để đánh giá điều kiện ghi nhận doanh thu. Thứ hai, hệ thống hóa quy trình hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu, tạo sổ theo dõi riêng cho từng loại giảm trừ. Thứ ba, nâng cấp phần mềm kế toán để tự động hóa việc kết chuyển doanh thu, chi phí cuối kỳ, giảm thiểu sai sót do nhập liệu thủ công. Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, đối chiếu sổ sách định kỳ, đảm bảo số liệu kế toán khớp với thực tế kinh doanh. Thứ năm, đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho nhân viên kế toán, cập nhật kịp thời các quy định mới về chuẩn mực kế toán và thuế. Công ty nên xây dựng hệ thống báo cáo quản trị nội bộ, cung cấp thông tin kịp thời cho ban lãnh đạo ra quyết định kinh doanh chiến lược.

3.1. Hoàn thiện quy trình ghi nhận và kiểm soát doanh thu

Quy trình ghi nhận doanh thu cần được chuẩn hóa theo từng bước rõ ràng. Bước đầu tiên là kiểm tra hợp đồng bán hàng, xác nhận điều kiện thanh toán và thời điểm giao hàng. Tiếp theo, đối chiếu phiếu xuất kho với hóa đơn bán hàng để đảm bảo tính chính xác. Doanh thu chỉ được ghi nhận khi đủ năm điều kiện theo quy định. Hệ thống kiểm soát nội bộ cần phân công rõ ràng giữa người lập hóa đơn, người giao hàng và người thu tiền. Việc đối chiếu công nợ phải thu định kỳ giúp phát hiện sớm các khoản nợ khó đòi. Công ty nên xây dựng biểu mẫu đánh giá khả năng thu hồi nợ, phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro tín dụng để quản lý hiệu quả hơn.

3.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong kế toán bán hàng

Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kế toán bán hàng. Công ty TNHH Hanbo Vina nên đầu tư nâng cấp hệ thống phần mềm kế toán tích hợp với quản lý kho và bán hàng. Phần mềm giúp tự động ghi nhận doanh thu khi có phiếu xuất kho, giảm thiểu thao tác thủ công. Báo cáo bán hàng được xuất tự động theo thời gian thực, giúp ban lãnh đạo theo dõi doanh số tức thì. Hệ thống cảnh báo tự động khi có hàng bán bị trả lại hoặc nợ quá hạn. Việc sao lưu dữ liệu định kỳ đảm bảo an toàn thông tin. Đào tạo nhân viên sử dụng thành thạo phần mềm là yếu tố then chốt để phát huy hiệu quả đầu tư công nghệ.

IV. Kết luận và ứng dụng kế toán bán hàng cho doanh nghiệp

Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là công cụ quan trọng để quản lý hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Tại Công ty TNHH Hanbo Vina, công tác kế toán bán hàng đã được tổ chức cơ bản phù hợp với đặc điểm kinh doanh. Hệ thống tài khoản kế toán được vận dụng tốt, sổ sách kế toán đầy đủ và rõ ràng. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục như quy trình ghi nhận doanh thu chưa hoàn thiện, công tác kiểm tra đối chiếu chưa thường xuyên. Việc áp dụng các giải pháp đề xuất sẽ giúp công ty nâng cao chất lượng thông tin kế toán, hỗ trợ ban lãnh đạo ra quyết định kịp thời và chính xác. Kết quả kinh doanh phản ánh đúng thực tế hoạt động, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch kinh doanh tương lai. Kinh nghiệm từ Công ty TNHH Hanbo Vina có thể áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất may mặc khác trong việc tổ chức kế toán bán hàng hiệu quả.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ thực tế kế toán bán hàng

Từ nghiên cứu thực tế tại Công ty TNHH Hanbo Vina, nhiều bài học kinh nghiệm quý báu được rút ra. Việc tổ chức bộ máy kế toán hợp lý với phân công nhiệm vụ rõ ràng là nền tảng quan trọng. Hệ thống tài khoản kế toán cần phù hợp với đặc điểm kinh doanh từng doanh nghiệp. Công tác ghi nhận doanh thu phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện quy định. Việc phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cần hợp lý, chính xác để xác định đúng kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp nên xây dựng hệ thống sổ sách khoa học, dễ tra cứu và kiểm tra. Đội ngũ kế toán cần được đào tạo thường xuyên, cập nhật kiến thức mới về chuẩn mực kế toán và pháp luật thuế.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu cho doanh nghiệp sản xuất

Kết quả nghiên cứu từ luận văn có thể ứng dụng rộng rãi cho các doanh nghiệp sản xuất trong ngành may mặc. Quy trình kế toán bán hàng tại Hanbo Vina là mô hình tham khảo hữu ích. Doanh nghiệp có thể áp dụng phương pháp ghi nhận doanh thu theo năm điều kiện chuẩn. Hệ thống tài khoản TK 511, 521, 632, 641, 642 và 911 được sử dụng thống nhất theo chế độ kế toán hiện hành. Việc kết hợp hình thức Nhật ký chung với phần mềm kế toán giúp tăng hiệu quả quản lý. Báo cáo kết quả kinh doanh trên Bảng cân đối kế toán phản ánh toàn diện hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp nên xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả bán hàng để theo dõi và cải thiện liên tục.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

29/05/2026
Kế toán bán hàng và xác định kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty trách nhiệm hữu hạn hanbo vina luận văn tốt nghiệp chuyên ngành kế toán

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về bán hàng và các phương thức bán hàng 1. Khái niệm về bán hàng * Khái niệm về hàng hóa: Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi và mua mua bán.

* Khái niệm về bán hàng: Bán hàng là khâu cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp thương mại, là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ tay người bán sang tay người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền được đòi tiền ở người mua.  Xét về góc độ kinh tế: Bán hàng là quá trình hàng hoá của doanh nghiệp được chuyển từ hình thái vật chất (hàng) sang hình thái tiền tệ (tiền).  Quá trình bán hàng ở các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thương mại nói riêng có những đặc điểm chính sau đây:  Có sự trao đổi thoả thuận giữa người mua và người bán, nguời bán đống ý bán, người mua đồng ý mua, họ trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.  Có sự thay đổi quyền sở hưu về hàng hoá: người bán mất quyền sở hữu, người mua có quyền sở hữu về hàng hoá đã mua bán.

Trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng một khối lượng hàng hoá và nhận lại của khách hàng một khoản gọi là doanh thu bán hàng. Số doanh thu này là cơ sở để doanh nghiệp xác định kết quả kinh doanh của mình. Các phương thức bán hàng Trong bán hàng, các doanh nghiệp có nhiều cách khác nhau để phân phối sản phẩm, hàng hóa đến người tiêu dùng. Nhưng chung quy lại, doanh nghiệp có 2 cách có thể đưa hàng hóa vào trong lưu thông, đó là bán buôn và bán lẻ.

SV: Trần Thị Thu Thảo 4 Lớp: CQ55/21.01 Luận văn Tốt nghiệp Học viện Tài chính Các hình thức này có những đặc điểm cũng như ưu nhược điểm khác nhau mà doanh nghiệp cần sử dụng hợp lý để có thể tối ưu lượng hàng hóa bán ra. Hình thức bán buôn * Khái niệm bán buôn: Là phương thức bán hàng hóa cho các doanh nghiệp thương mại, các doanh nghiệp sản xuất. Đặc điểm của bán buôn là hàng vẫn còn nằm trong khâu lưu thông, chưa đi vào lĩnh vực tiều dùng. Hàng thường được bán theo lô hoặc bán với số lượng lớn.

Giá bán thường phụ thuộc vào số lượng hàng bán và phương thức thanh toán. Các kênh phân phối của hình thức bán buôn đó là:  Bán buôn qua kho: Là phương thức bán buôn hàng hóa, trong đó hàng hóa bán phải được xuất từ kho bảo quản của doanh nghiệp. Bán buôn hàng hóa qua kho có thể thực hiện qua hai hình thức:  Hình thức giao hàng trực tiếp: Bên mua cử đại diện đến kho của doanh nghiệp để nhận hàng. Doanh nghiệp xuất kho hàng hóa giao trực tiếp cho đại diện bên mua.

Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chấp nhận thanh toán, hàng hóa được xác định tiêu thụ.  Hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết hoặc đơn đặt hàng, doanh nghiệp xuất kho hàng hóa, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc đi thuê ngoài chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc một địa điểm nào đó bên mua quy định trong hợp đồng. Hàng hóa chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi bên mua kiểm nhận hàng, thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì mới được coi là đã tiêu thụ, quyền sở hữu hàng hóa được chuyển sang cho người mua.

Chi phí vận chuyển do bên nào chịu được quy định trong hợp động.  Bán buôn vận chuyển thẳng: Là phương thức bán buôn hàng hóa, theo đó doanh nghiệp sau khi mua hàng, nhận hàng mua không đưa về nhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua. SV: Trần Thị Thu Thảo 5 Lớp: CQ55/21.01 Luận văn Tốt nghiệp Học viện Tài chính Bán buôn vận chuyển thẳng có thể được thực hiện qua hai hình thức:  Hình thức giao hàng trực tiếp (giao tay ba): Theo hình thức này, doanh nghiệp sau khi mua hàng, giao trực tiếp cho đại diện của bên mua tại kho người bán. Sau khi đại diện bên mua ký nhận đủ hàng, thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán, hàng hóa được xác định là tiêu thụ.

 Hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, doanh nghiệp sau khi mua hàng, nhận hàng mua, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài, vận chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được thỏa thuận. Hàng hóa chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi nhận được tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì hàng hóa chuyển đi mới được xác định là tiêu thụ. Hình thức bán lẻ * Khái niệm bán lẻ: Là hình thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng.

Đặc điểm của phương thức bán lẻ là hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào tiêu dùng. Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đã được thực hiện. Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc số lượng nhỏ, giá cả ổn định. Bán lẻ có thể thực hiện dưới các hình thức sau:  Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Là hình thức bán hàng mà trong đó tách rời nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng cho người mua.

Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách, viết hoá đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở quầy hàng do nhân viên bán hàng giao. Hết ca (hoặc hết ngày) bán hàng, nhân viên bán hàng căn cứ vào hoá đơn và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ca (trong ngày) và lập báo cáo bán hàng. Nhân viên thu tiền làm giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ. SV: Trần Thị Thu Thảo 6 Lớp: CQ55/21.01 Luận văn Tốt nghiệp Học viện Tài chính  Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền của khách và giao hàng cho khách.

Hết ca, hết ngày bán hàng, nhân viên bán hàng làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ. Đồng thời, kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ca, trong ngày và lập báo cáo bán hàng.  Hình thức bán lẻ tự phục vụ (tự chọn): Theo hình thức này, khách hàng tự chọn lấy hàng hoá, mang đến bán tính tiền để tính tiền và thanh toán tiền hàng. Nhân viên thu tiền kiểm hàng, tính tiền, lập hoá đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng.

Nhân viên bán hàng có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng và bảo quản hàng hoá ở quầy (kệ) do mình phụ trách. Hình thức này được áp dụng phổ biến ở các siêu thị.  Hình thức bán trả góp: Theo hình thức này, người mua được trả tiền mua hàng thành nhiều lần. Doanh nghiệp, ngoài số tiền thu theo giá bán thông thường còn thu thêm ở người mua một khoản lãi do trả chậm.

Đối với hình thức này, về thực chất, người bán chỉ mất quyền sở hữu khi người mua thanh toán hết tiền hàng. Tuy nhiên, về mặt hạch toán, khi giao hàng cho người mua, hàng hoá bán trả góp được coi là tiêu thụ, bên bán ghi nhận doanh thu.  Hình thức bán hàng tự động: Bán hàng tự động là hình thức bán lẻ hàng hoá mà trong đó, các doanh nghiệp sử dụng các máy bán hàng tự động chuyên dùng cho một hoặc một vài loại hàng hoá nào đó đặt ở các nơi công cộng. Sau khi bỏ tiền vào máy, máy sẽ tự động đẩy hàng ra cho người mua.

 Hình thức gửi đại lý bán hay ký gửi hàng hoá: Gửi đại lý bán hay ký gửi hàng hoá là hình thức bán hàng mà trong đó doanh nghiệp giao hàng cho cơ sở đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Bên nhận làm đại lý, ký gửi sẽ trực tiếp bán hàng, thanh toán tiền hàng và được hưởng hoa hồng đại lý. Số hàng chyển giao cho các cơ sở đại lý, ký gửi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi doanh nghiệp được cơ sở đại lý, ký gửi SV: Trần Thị Thu Thảo 7 Lớp: CQ55/21.01 Luận văn Tốt nghiệp Học viện Tài chính thanh toán tiền hay chấp nhận thanh toán hoặc thông báo về số hàng đã bán được, doanh nghiệp mới mất quyền sở hữu về số hàng này. Nội dung cơ bản của xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1.

Khái niệm về xác định kết quả kinh doanh * Kết quả kinh doanh: Là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, được biểu hiện bằng số tiền lãi hay lỗ. * Xác định kết quả kinh doanh: Là việc so sánh giữa chi phí kinh doanh đã bỏ ra và thu nhập kinh doanh đã thu về trong kỳ. Nếu thu nhập lớn hơn chi phí thi kết quả bán hàng là lãi, thu nhập nhỏ hơn chi phí thì kết quả bán hàng là lỗ. Việc xác định kết quả kinh doanh thường được tiến hành váo cuối kỳ kinh doanh thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm, tuỳ thuộc vào từng đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp.

Các loại kết quả kinh doanh và phương pháp xác định Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh thông thường và kết quả hoạt động khác.  Kết quả hoạt động kinh doanh thông thường: là kết quả từ những hoạt động tạo ra doanh thu của doanh nghiệp, đây là hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ và hoạt động tài chính: Kết quả hoạt Tổng Doanh GV của hàng CPBH và động SXKD = thu thuần về - xuất bán và chi - CPQLDN (BH và BH và CCDV phí thuế TNDN CCDV) Kết quả từ hoạt = Tổng Doanh thu thuần - Chi phí về hoạt động tài chính về hoạt động tài chính động tài chính SV: Trần Thị Thu Thảo 8 Lớp: CQ55/21.01 Luận văn Tốt nghiệp Học viện Tài chính Trong đó: Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ tính bằng tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi (-) các khoản giảm trừ doanh thu (chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, doanh thu hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ