Chương 1: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu: 1.1: Định nghĩa Marketing: Cho đến nay nhiều người vẫn lầm tưởng marketing với việc chào hàng (tiếp thị), nghề marketing là nghề đi chào hàng, đi giao hàng, giới thiệu dùng thử sản phẩm ( nghề tiếp thị) hoặc marketing thực chất là bán hàng và các hoạt động kích thích tiêu thụ. Vì vậy họ quan niệm marketing chẳng qua là hệ thống các biện pháp mà người bán sử dụng để cốt làm sao bán được nhiều và bán hết những hàng hoá đã sản xuất ra để thu được tiền về cho người bán. Từ thực tiễn của kinh doanh trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, hiểu như trên là sai lầm. Thực ra, tiêu thụ và hoạt động tiếp thị chỉ là một trong những khâu của hoạt động marketing.
Hơn thế nữa, trong hầu hết các trường hợp, đó lại không phải là khâu quan trọng nhất. Một hàng hoá không phù hợp với mong muốn và đòi hỏi của người tiêu dùng, hoặc do chất lượng hợp với mong muốn và đòi hỏi của người tiêu dùng, hoặc do chất lượng thấp, hoặc do kiểu dáng kém hấp dẫn, hoặc do giá cả đắt. kém hấp dẫn cso với hàng hoá của đối thủ cạnh tranh, dù cho người ta có tốn bao nhiêu công sức và tiền của để thuyết phục khách hàng, thì việc mua chúng vẫn rất hạn chế. Ngược lại, nếu như nhà kinh doanh tìm hiểu kĩ lưỡng nhu cầu, mong muốn của khách hàng, tạo ra những mặt hàng phù hợp với nhu cầu mong muốn đó, quy định một mức giá thích hợp, có một phương thức phân phối hấp dẫn và kích thích tiêu thụ có hiệu quả hơn so với hàng hoá tương tự của đối thủ cạnh tranh thì 1 chắc chắn việc bán hàng sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Cách làm như thế là biểu hiện của việc thực hành quản trị kinh doanh theo quan điểm của marketing hiện đại. Người ta có rất nhiều định nghĩa khác nhau về marketing, nhưng trong bài luận văn này, tôi sử dụng định nghĩa marketing của GS.TS Trần Minh Đạo như sau: Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của con người. Cũng có thể hiểu, marketing là một dạng hoạt động của con người (bao gồm cả tổ chức) nhằm thoả mãn các nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi. Thông thường người ta cho rằng marketing là công việc của bên bán nhưng hiểu một cách đầy đủ thì đôi khi cả bên mua cũng phải làm marketing.
Do đó, thường thì trên thị trường, bên nào “tích cực” hơn trong việc tìm kiếm cách trao đổi với bên kia, thì bên đó thuộc về phía làm marketing.2: Chiến lược Marketing 1.1: Khái niệm về chiến lược Thuật ngữ chiến lược xuất phát từ lĩnh vực quân sự với ý nghĩa để chỉ ra các kế hoạch lớn và dài hạn trên cơ sở chắc chắn rằng cái gì đối phương có thể làm được, cái gì đối phương không thể làm được. Từ đó thuật ngữ chiến lược kinh doanh ra đời, theo quan điểm truyền thống chiến lược là việc xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức để từ đó đưa ra các chương trình hành động cụ thể cùng với việc sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Theo Alfred Chandler (1962): “Chiến lược bao gồm những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. Glueck: “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính 2 toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ được thực hiện”.
Tác giả ủng hộ quan điểm của Michael E. Porter (1996) khi cho rằng “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”. Theo cách tiếp cận này, chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh, tìm và thực hiện cái chưa được làm (what not to do), bản chất của chiến lược là xây dựng được lợi thế cạnh tranh (competitive advantages). Như vậy có thể kết luận lại, chiến lược là những định hướng một cách bài bản cho những bước đi của công ty từ hiện tại hướng tới tương lai, ở đó tổ chức phải giành được lợi thế cạnh tranh thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức.
Các định hướng này giúp công ty định hình được con đường đi của mình, từng bước tích lũy các nguồn lực và sử dụng một cách tập trung các nguồn lực đó một cách tối ưu.2: Khái niệm về chiến lược Marketing Chiến lược tổng thể của công ty hay bước kế hoạch hoá chiến lược đã xác định được sứ mệnh và mục tiêu của toàn thể công ty. Bước tiếp theo công ty phải xây dựng chiến lược marketing và soạn thảo hệ thống marketing hỗn hợp cho từng sản phẩm hoặc thị trường hoặc đơn vị kinh doanh chiến lược để hướng đến phục vụ khách hàng. Chiến lược Marketing là cách thức mà doanh nghiệp thực hiện để đạt được mục tiêu marketing và thường liên quan đến 4P. Chiến lược Marketing giải quyết nhưng vấn đề sau: - Thị trường cạnh tranh là gì.
- Khách hàng là ai. 3 - Khách hàng là gì. - Các chính sách Marketing như thế nào. Bản chất của chiến lược Marketing Căn cứ vào khách hàng Khách hàng là cơ sở của mọi chiến lược.
Để chiến lược Marketing thực sự dựa vào khách hàng, khi xây dựng chiến lược thì doanh nghiệp phải phân đoạn thị trường: theo mục đích sử dụng và theo khả năng đáp ứng thị trường. Căn cứ vào khả năng của doanh nghiệp Khai thác tối đa các lợi thế của doanh nghiệp mình để tạo sự khác biệt. Căn cứ vào đối thủ cạnh tranh Cạnh tranh lợi thế của mình so với đối thủ cạnh tranh và tập trung cho các phân đoạn mình cho là tốt nhất. Vai trò của chiến lược Marketing Chiến lược Marketing và Marketing hỗn hợp là hoạt động hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp thương mại, chiến lược Marketing giúp doanh nghiệp tìm kiếm những thông tin hữu ích về thị trường, có điều kiện mở rộng thị trường và tăng quy mô kinh doanh.
Các công cụ Marketing giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường tăng thị phần, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ bằng cách nâng cao khả năng cạnh tranh và làm thoả mãn nhu cầu khách hàng. Hoạch định chiến lược Marketing giúp doanh nghiệp nắm vững cơ hội, nguy cơ, hiểu rõ điểm mạnh, điểm yếu của mình trên cơ sở đó có khả năng đối phó với những biến động của thị trường và có được chiến lược thích hợp.3: Quy trình hoạch định chiến lược Marketing Bước 1: Xác định tầm nhìn, sứ mệnh và mục tiêu 4 - Sứ mệnh: là bảng cam kết những giá trị mà doanh nghiệp có thể cung ứng cho khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung ứng… trong tương lai. - Tầm nhìn (viễn cảnh): là hướng đi, là bức tranh lớn mô tả về những giấc mơ mà doanh nghiệp hằng ấp ủ, niềm hy vọng và trách nhiệm có thể đạt được trong tương lai. - Mục tiêu: là những điều mà tổ chức cam kết đạt được: + Mục tiêu định lượng.
+ Mục tiêu định tính. Bước 2: Phân tích tình hình hiện tại của tổ chức Các điểm mạnh (S): Những điểm tổ chức làm tốt hoặc những đặc tính giúp tăng cường tính cạnh tranh: một kỹ năng hoặc chuyên môn quan trọng, tài sản giá trị hữu hình, tài năng giá trị, thành tích hoặc giải thưởng tạo thành tích trên thị trường…. - Lợi thế của mình là gì? - Công việc nào mình làm tốt nhất? - Ưu thế mà người khác thấy được ở mình là gì? - Phải xem xét vấn đề từ trên phương diện bản thân và của người khác. Các điểm yếu (W): là những vấn đề mà tổ chức cần phải khắc phục: thiếu vốn trí tuệ, thiếu kỹ năng hoặc thiếu chuyên môn quan trọng để cạnh tranh.
Thiếu tài sản vô hình, tài sản tổ chức, hoặc tài sản hữu hình cần để cạnh tranh. Thiếu khả năng trong một số lĩnh vực quan trọng (chi phí cao hơn đối thủ, thiếu vốn,…) - Có thể cải thiện điều gì? - Công việc nào mình làm tồi nhất? - Cần tránh làm gì? 5 - Phải xem xét vấn đề trên cơ sở bên trong và cả bên ngoài. Người khác có thể nhìn thấy yếu điểm mà bản thân mình không thấy. Vì sao đối thủ cạnh tranh có thể làm tốt hơn mình? - Lúc này phải nhận định một cách thực tế và đối mặt với sự thật.
Ba tiêu chuẩn: - Khả năng có thể tạo ra thêm tiềm năng để mở rộng thị phần. - Khả năng đem lại nhiều lợi ích hơn cho khách hàng. - Khả năng tạo ra những sản phẩm mà các đối thủ cạnh tranh không thể sao chép được. Bước 3: Phân tích bối cảnh hoạt động của tổ chức Cơ hội (O) - Cơ hội tốt đang ở đâu? - Xu hướng đáng quan tâm nào mình đã biết? - Cơ hội có thể xuất phát từ sự thay đổi công nghệ và thị trường dù là quốc tế hay phạm vi hẹp, từ sự thay đổi trong chính sách của nhà nước có liên quan tới lĩnh vực hoạt động của công ty, từ sự thay đổi khuôn mẫu xã hội, cấu trúc dân số hay cấu trúc thời trang… từ các sự kiện xảy ra trong khu vực.
- Phương thức tìm kiếm hữu ích nhất là rà soát lại các ưu thế của mình và tự đặt câu hỏi liệu các ưu thế ấy có mở ra cơ hội mới nào không. Cũng có thể làm ngược lại, rà soát các yếu điểm của mình và tự đặt câu hỏi liệu có cơ hội nào xuất hiện nếu loại bỏ được chúng. Đe dọa (T) - Những trở ngại đang gặp phải? - Các đối thủ cạnh tranh đang làm gì? - Những đòi hỏi đặc thù về công việc, về sản phẩm hay dịch vụ có thay đổi gì không? - Thay đổi công nghệ có nguy cơ gì với công ty hay không? 6 - Có vấn đề gì về nợ quá hạn hay dòng tiền? - Liệu có yếu điểm nào đang đe dọa công ty? - Các phân tích này thường giúp tìm ra những việc cần phải làm và biến yếu điểm thành triển vọng.