phần mở đầu, kết luận luận văn được chia làm 3 chương: 5 Chƣơng I: Một số vấn đề cơ bản về huy động vốn của ngân hàng thương mại. Chƣơng II: Thực trạng về huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp Huyện Vụ Bản. ChƣơngIII: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp huyện Vụ Bản. CHƢƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.
Ngân hàng thƣơng mại và huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại. Khái quát chung về Ngân hàng thƣơng mại và vai trò của ngân hàng thƣơng mại đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. * Khái niệm Ngân hàng thƣơng mại. Ngân hàng thương mại là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Để đưa ra được một định nghĩa về NHTM, người ta phải dựa vào tính chất và hoạt động của nó trên thị trường tài chính, và đôi khi còn kết hợp với tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động. Luật các tổ chức tín dụng do luật pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 22 tháng 12 năm 1997 tại điều 200 có nêu: “NHTM là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Trong đó “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với hoạt động 6 thường xuyên là nhận gửi, sử dụng tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân tích, khai thác nội dung của các định nghĩa đó, người ta dễ nhận thấy các NHTM đều có chung một tính chất, đó là nhận tiền kỳ thác – tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn, để sử dụng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu các dịch vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng.
Có thể khái quát khái niệm của NHTM như sau: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với các hoạt động chủ yếu là huy động vốn, cho vay đầu tư và các hoạt động dịch vụ nhằm một trong các mục tiêu quan trọng là tối đa hoá lợi nhuận. * Vai trò của ngân hàng thƣơng mại đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế. Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân doanh nghiệp và nhà nước trong nền kinh tế.
Vì vậy muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân và có mức độ chi tiêu hợp lý. Để tăng thu nhập quốc dân tức là cần mở rộng quy mô cả về chiều rộng và chiều sâu của sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế, muốn làm được điều này cần có vốn. Mặt khác, khi nền kinh tế phát triển sẽ tạo ra nhiều nguồn vốn, điều này sẽ tác động tích cực đến các hoạt động của ngân hàng. NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức cá nhân, mọi thành phần kinh tế như: vốn từ nguồn tiết kiệm của các cá nhân trong xã hội hay vốn tạm thời được giải phóng từ quá trình sản xuất.
Bằng nguồn vốn huy động được trong xã hội và thông qua hoạt 7 động tín dụng sẽ cung cấp vốn một cách kịp thời cho hoạt động tái sản xuất. Nhờ đó hoạt động của hệ thống NHTM và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng xuất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu tác động mạnh mẽ của các quy luật khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thoả mãn nhu cầu trên mọi phương diện được thể hiện như: không những thoả mãn về nhu cầu về phương diện giá cả, khối lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá mà còn đòi hỏi thoả mãn trên phương diện thời gian, địa điểm.
Để đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trường buộc các doanh nghiệp phải đạt được một hiệu quả nhất định theo quy định chung của thị trường. Doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán….mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị , dây truyền công nghệ, tìm tòi sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp. Những hoạt động này đòi hỏi một khối lượng lớn vốn đầu tư nhiều khi vượt quá khả năng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Để giải quyết khó khăn này doanh nghiệp tìm đến ngân hàng xin vay vốn thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình.
Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung ứng cho doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, giúp doanh 8 nghiệp đáp ứng được các nhu cầu của thị trường, từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh. Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, NHTM hoạt động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình sẽ thực sự là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống các NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông. Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các nghành trong nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô: “ Nhà nước điều tiết, ngân hàng dẫn dắt thị trường”. Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia và tài chính quốc tế , thúc đẩy ngoại thương phát triển. Trong nền kinh tế thị trường khi các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế – xã hội giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách.
Việc phát triển nền kinh tế ở mỗi quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành lên sự phát triển đó. Vì vậy, nền tài chính của mỗi nước cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế. NHTM cùng các hoạt động kinh doanh của mình đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này. Với các nghiệp vụ kinh doanh như: nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác, NHTM đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng.
Thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các NHTM 9 nước ngoài, hệ thống NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính Quốc tế. NHTM ra đời và phát triển trên cơ sở nền sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển và nền kinh tế ngày càng cần đến hoạt động của NHTM với các chức năng và vai trò của mình. Thông qua việc thực hiện các chức năng, vai trò của mình nhất là chức năng trung gian tín dụng. NHTM đã trở thành một bộ phận quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại.1 Hoạt động tạo lập nguồn vốn. NHTM là một loại hình doanh nghiệp, bởi vậy muốn mở rộng các hoạt động kinh doanh của mình, nó phải tự tạo lập được nguồn vốn cho mình. Vốn tự có: Vốn tự có của NHTM bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng, song nó có ý nghĩa quan trọng: là cơ sở để thu hút nguồn vốn khác, là vốn khởi đầu tạo uy tín của ngân hàng, sử dụng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngân hàng.
Đồng thời vốn tự có còn là cơ sở thu hút được nhiều nguồn vốn huy động và xác định hệ số an toàn trong kinh doanh ngân hàng. Bởi vậy, các NHTM không ngừng tăng cường bổ sung vốn điều lệ, trích lập các quỹ dự trữ và sử dụng các tài sản nợ. Vốn huy động : Huy động vốn là nghiệp vụ truyền thống của NHTM, đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Nó tạo ra nguồn vốn chủ lực trong kinh doanh.
NHTM thường huy động vốn nhàn dỗi qua các hình thức nhận tiền gửi, phát hành các chứng từ có giá. Hoạt 10 động huy động vốn của mỗi ngân hàng nhằm mục đích để ngân hàng thực hiện hoạt động cho vay và kinh doanh của mình. Ngoài ra, trong quá trình hoạt động kinh doanh một NHTM có thể thiếu vốn ngắn hạn để thanh toán. Ngân hàng giải quyết bằng cách đi vay các NHTM khác và các tổ chức tín dụng hoặc NHNN.
Vay vốn của các NHTM và các tổ chức tín dụng được thực hiện thông qua các thị trường liên ngân hàng. Việc vay vốn này được thực hiện ở NHNN và sau đó sẽ điều chỉnh cho các chi nhánh trong hệ thống. Còn vay vốn của NHNN được thực hiện thông qua hình thức cấp vốn, vay vốn bổ sung thanh toán vốn bù trừ giữa các NHTM và vay khi ngân hàng mất khả năng thanh toán. Huy động vốn trong thanh toán và vốn khác: Trong quá trình thực hiện chức năng thanh toán, ngân hàng không dùng tiền mặt của khách hàng, như vậy ngân hàng đã huy động được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức: tiền ký quỹ vào tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền chu chuyển trong thanh toán.
Bên cạnh đó, khi thực hiện các dịch vụ, ngân hàng huy động được vốn uỷ thác đầu tư, tài trợ của chính phủ hoặc nước ngoài.Trong thời gian chờ giải ngân, NHTM có thể huy động làm nguồn vốn kinh doanh.2 Hoạt động sử dụng vốn.